Posts Tagged ‘Trần Mỹ Giống’

THẮP SÁNG ĐƯỜNG TU: thơ Trần Mỹ Giống.

 

THẮP SÁNG ĐƯỜNG TU

Trần Mỹ Giống.

.

Gửi lại cà sa khoác chiến bào
Đường tu vận nước buổi binh đao
Theo đoàn vệ quốc đi trừ giặc
Chẳng sợ gian lao đổ máu đào

Chuông giục cờ bay lễ xuất quân
Tăng ni Phật tử khắp xa gần
Bụi trần đã dũ còn vương vấn
Bởi trái tim hồng đất Vạn Xuân

Trận đánh vừa qua lại nhớ chùa
Nhớ ngày xuống tóc mở đường tu
Thôi đành bỏ dở trang kinh Phật
Đi trả thù nhà dựng chiến khu

Chín năm chinh chiến đã đi qua
Người dở việc quân, kẻ lại nhà
Người mãi ra đi trong chiến trận
Người về cửa Phật niệm di đà

Chuyện nơi cửa Phật đất quê tôi
Hai bảy nhà sư trọng nghĩa đời
Cởi áo cà sa đi cứu nước
Ngàn năm danh pháp nét son tươi.

TMG

………………….

Tháng 2 – 1947 tại chùa Cổ Lễ (huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định) đã diễn ra lễ xuất quân tiễn 27 nhà sư đi bộ đội chống Pháp, hưởng ứng “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Advertisements

NGHIỆM THU ĐỀ TÀI “DẤU ẤN VĂN HÓA TRẦN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NAM ĐỊNH”

NGHIỆM THU ĐỀ TÀI “DẤU ẤN VĂN HÓA TRẦN VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NAM ĐỊNH”

Ngày 15 – 3 – 2013 Sở Khoa học Công nghệ Nam Định đã tổ chức Hội nghị nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định” do Hội VHNT Nam Định thực hiện, Cử nhân Nguyễn Thị Cảnh làm Chủ nhiệm đề tài.

Kết quả đề tài đã được nghiệm thu với số điểm bình quân 82,6/100 xếp loại KHÁ.

Ts. Lê Đức Ngân (Giám đốc Sở KHCN – chủ tịch Hội đồng) kết luận: Ghi nhận sự cố gắng hết sức của nhóm thực hiện đề tài. Số điểm mà Hội đồng nghiệm thu dành cho đề tài là rất cao. Đề tài phải chỉnh lý lại những vấn đề chưa đạt trên cơ sở ý kiến của các vị ủy viên hội đồng đã chỉ ra. Đặc biệt phải làm lại chuyên đề số 1 viết về Thiên Trường thế kỷ 13 – 14…
(Chuyên đề này là chương mở đầu quan trọng của đề tài được hội đồng nghiệm thu nhận xét là sơ sài, không đạt yêu cầu một bài nghiên cứu. Nói hình ảnh thì đây là “công trình một đêm”).


.

Được mời làm ủy viên hội đồng nghiệm thu, chủ blog có chuẩn bị trước một bài phát biểu. Trong Hội nghị bài phát biểu được trình bày tóm tắt. Nay xin giới thiệu đầy đủ…

BÀI PHÁT BIỂU ĐÁNH GIÁ, GÓP Ý CHO ĐỀ TÀI CỦA ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU TRẦN MỸ GIÔNG

Kính thưa Tiến sĩ Lê Đức Ngân, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài “Dấu ấn văn hóa Trần với cộng đồng dân cư Nam Định”!
Thưa các vị ủy viên hội đồng và các bác, các anh chị!

Tôi rất tán đồng với nội dung đánh giá đề tài của Gs.Ts. Nguyễn Quang Ngọc, Pgs.Ts. Trần Đức Minh. Bài nhận xét về đề tài của hai vị rất chính xác, có bài bản, nêu được những vấn đề chủ yếu về kết quả và những hạn chế của đề tài một cách thuyết phục. Do vậy, cho phép tôi chỉ phát biểu ý kiến cá nhân những điểm không trùng với ý kiến của hai vị giáo sư đáng kính vừa phát biểu.

Thứ nhất, tôi có ba điều tiếc – ba cái “giá mà” như sau:

a- Nghiên cứu một vấn đề thường người ta phải có chủ thuyết về vấn đề đó để làm cơ sở giới hạn nội dung, phạm vi nghiên cứu. Giá mà… những người thực hiện đề tài hôm nay có một đề mục khái niệm văn hóa, văn hóa Trần thì tính nghiên cứu sẽ cao hơn, người thực hiện cũng như người đọc sẽ không trệch ra ngoài quỹ đạo định trước.

b- Nội dung Báo cáo tổng quan đề tài thể hiện quan điểm nghiên cứu một chiều, đơn điệu. Giá mà… đề tài phản ánh nhiều chiều, nhiều mặt, nhiều góc độ, cả quan điểm trái chiều làm rõ thực trạng khách quan nhận thức vấn đề. Rồi phản biện lại phản biện, nếu thành công thì tính thuyết phục, tính chân thực, khách quan, độ tin cậy sẽ cao hơn.

Cụ thể đối với vấn đề nóng hiện nay là lễ hội khai ấn đền Trần, hiện có nhiều ý kiến phản biện rất thuyết phục, như các bài viết của Ts. Nguyễn Xuân Diện, Ts. Nguyễn Hồng Kiên… Tôi cùng nhà nghiên cứu Hán Nôm Dương Văn Vương, nguyên chuyên viên Bảo tàng Nam Định, đã từng phát hiện, dịch, giới thiệu bài thơ “Thập tứ dạ quan khai ấn hội” của Tiến sĩ Đỗ Hựu (TK15) nói về lai lịch khai ấn đền Trần. Theo nguyên chú của tác giả thì lệ này là của riêng tộc Trần, chứ không phải lệ quốc gia. Mà tộc Trần nguyên là tộc Dương từ Mân Châu (Trung Quốc) sang Quảng Ninh, Yên Tử rồi đến vùng Khang Kiện (Tức Mặc – Thiên Trường). Do mâu thuẫn, tộc Dương chia hai chi, một chi chuyển về vùng Hưng Hà, Thái Bình hiện nay, chi ở lại đổi họ Trần và phát tích ở đây. Lễ khai ấn đền Trần nhắc nhở con cháu nhớ về nguồn cội và cầu no ấm, chứ tuyệt nhiên không liên quan gì đến cầu quan tước, không phải lệ của chính quyền nhà nước như hiện nay người ta xuyên tạc. Chúng tôi gửi tham luận tới Hội thảo Đề án khai ấn đền Trần 2012 nhưng không được mời. Thế nhưng từ ông tiến sĩ trung ương Nguyễn Chí Bền, đến ông tiến sĩ địa phương Nguyễn Xuân Năm đều lấy tư liệu chúng tôi công bố biến thành của mình làm cơ sở chủ yếu bảo vệ quan điểm đề án khai ấn đền Trần năm 2012. Có điều các ông lờ phần nguyên chú của tác giả đi, thành ra nội hàm của chính văn bị xuyên tạc. (Mới tham khảo bài “Có hay không lệ khai ấn đền Trần?”http://newvietart.com/index4.999.html)

Hay là vấn đề Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ có thực là Hành cung nhà Trần Không? http://newvietart.com/index4.696.html . Tôi cùng nhà nghiên cứu Dương Văn Vượng có bài nghiên cứu đăng trên nhiều trang mạng, trên tạp chí Khuông Việt của Viện Phật giáo Việt Nam (số 13 + 14 tháng 1 – 2011. – Tr. 43 – 45) phản biện quan điểm chính thống của tỉnh trên cơ sở ba bài thơ về các địa danh này của ba vị Hoàng giáp thế kỷ 15. Theo tinh thần các cứ liệu chúng tôi đưa ra, thì các địa danh trên vốn là nơi đồn trú của 4 đội trong đội quân Thiên Thuộc có nhiệm vụ bảo vệ hành cung Tức Mặc. Đội quân này tồn tại qua chống Nguyên đến chống Minh. Dân sở tại lập 4 miếu thờ các tử sĩ vô danh ở 4 nơi đóng quân của 4 đội quân này, đều gọi là miếu Cô Hồn. Về sau này các miếu Cô Hồn được mở rộng, dân đưa tượng Phật vào thờ mà thành chùa. Hiện chưa tìm thấy tài liệu lịch sử nào nói 4 địa danh này là hành cung cả. Ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam hiện chưa tìm thấy bất cứ dấu tích nào chứng minh đây là hành cung. Riêng ở Đệ Tứ, trên cơ sở đào thám sát thấy sân gach, đầu rồng đất nung… ngành Bảo tàng tỉnh đã vội kết luận đó là dấu tích Hành cung, vì chỉ có nơi vua ở mới có các hiện vật đó. Bài viết của chúng tôi đăng trên Tạp chí Khuông Việt (nêu trên) đã dùng tư liệu từ TK15 chứng minh rõ sân gạch, đầu rồng… tìm thấy khu chùa Đệ Tứ chính là nơi ở của Thái sư Trần Quang Khải. Trần Quang Khải dựng Tĩnh Tâm Quán làm nơi thờ Thánh Tam Thanh thường khi cầu đảo mong mưa thuận gió hòa (do ông theo đạo du nhập từ Trung Quốc sang). Về sau đổi gọi là Đại Thánh Quán. Thời Lê Trịnh dân đem tượng Phật vào thờ mới gọi là Đại Thánh Quán Tự.

Kết luận rằng sân gạch và đầu rồng đất nung chỉ nơi vua ở mới có của các nhà Bảo tàng công chức nô dịch thật là một sự áp đặt thô thiển.

Nêu những chuyện này, tôi muốn nói rằng cần được đưa vào đề tài nghiên cứu cả những quan điểm trái chiều với quan điểm chính thống. Các vị thực hiện đề tài hãy phản biện lại những điều tôi nêu thì sinh động, thuyết phục hơn nhiều là chỉ biết nhắc lại những điều người khác nói nhưng không có chính kiến của mình.

Tôi đồng tình với Gs.Ts. Nguyễn Quang Ngọc: Cái gì sai dù ai nói cũng bỏ đi, cái còn chưa rõ thì dùng cách nói nước đôi, chứ không nên chỉ biết nói theo người khác…

c- Khi nghiên cứu văn hóa Trần, không chỉ thống kê những nét văn hóa đặc sắc của nó. Mà cần phải so sánh làm sáng tỏ vấn đề đó mới thuyết phục. Giá mà… các vị cho biết cái đặc sắc văn hóa Trần nó khác với văn hóa các triều đại khác, khác với văn hóa Trung Hoa ở chỗ nào thì chất lượng công trình được nâng lên rất nhiều. Ví dụ như vấn đề Phật giáo Trần rất nổi bật, vấn đề sẽ thuyết phục nếu các vị so sánh với Phật giáo Trung Hoa, Phật Giáo các triều đại khác đế làm nổi bật nét đặc sắc của nó.

Thứ hai, tôi góp ý sửa một số chi tiết:

Trong lần nghiệm thu cơ sở, tôi đã chỉ ra rất nhiều sai sót và đã được Ban chủ nhiệm đề tài tiếp thu. Tuy nhiên vẫn còn một số “hạt sạn” chưa được nhặt ra:

– Trang 13 dòng 13 trên xuống có viết:
“Chính nơi đây (Trường thi Hương Nam Định) đã đóng góp 82 Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ, Phó bảng”.
Xin hỏi căn cứ vào đâu để nêu ra số liệu này? Không có xuất xứ tư liệu thì không đạt yêu cầu của việc nghiên cứu.

– Trang 17 dòng 7 dưới lên viết “Những vị trạng nguyên tuổi trẻ, tài cao như Nguyễn Hiền, Trần Đạo Tái”, nhưng trang 68 lại viết “Trần Đạo Tái đỗ Bảng nhãn” là không thống nhất. Sự thực thời Trần tỉnh ta chỉ có trạng nguyên Nguyễn Hiền và trạng nguyên Đào Sư Tích.

– Trang 47 dòng 12 trên xuống viết:
“Sau này Tiến đế nhà Trần đã lấy tên Thiên Thuộc đặt cho chùa Đệ Nhị đồng thời cho thờ các liệt sĩ ở đó”.
Tiền thân của chùa Đệ Nhị là miếu Cô Hồn do dân sở tại lập thờ lính chết trận vô danh của đội quân Thiên Thuộc. Lẽ nào Tiên đế nhà Trần (Trần Thái Tông) băng trước đó nhiều thế hệ còn đặt được tên cho chùa?

– Trang 72 dòng 2 trên xuống: Các vị đã ghi nhầm thám hoa Trần Bích Hoành thành Trần Hoàng Bích.

– Trang 71 và 72: Báo cáo khẳng định Nam Định có 88 nhà khoa bảng. Phần phân tích lại chỉ cộng được 87 nhà khoa bảng. Thì ra các vị quên không thống kê một vị khoa bảng thời Lý…

Tóm lại:

Tôi đánh giá Báo cáo tổng quan đề tài là:
– Đã hoàn thành nội dung nghiên cứu, phù hợp với giới hạn nghiên cứu đặt ra trong đề tài.
– Giá trị cơ bản và đáng ghi nhận của kết quả nghiên cứu đề tài là giá trị THÔNG TIN.
– Với đánh giá trên, tôi xin hạ bút tặng những người thực hiện đề tài 83 / 100 điểm.

TMG 

NGUỒN

ĐỌC TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA HOÀNG NGỌC TRÚC

ĐỌC TRUYỆN CỰC NGẮN CỦA HOÀNG NGỌC TRÚC

TRẦN MỸ GIỐNG

Thày giáo dạy văn Hoàng Ngọc Trúc (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nam Định) đã có nhiều thơ, truyện, nghiên cứu phê bình đăng trên báo, tạp chí trung ương và địa phương từ mấy chục năm nay. Sau khi nghỉ hưu anh cho ra đời liên tiếp ba tác phẩm: Một khối tình (Tập thơ, Nhà xuất bản Thanh niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 1 (Nhà xuất bản Thanh niên, 2005), Truyện cực ngắn tập 2 (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2006). Tháng 5 năm 2012 nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản Truyện cực ngắn chọn lọc của Hoàng Ngọc Trúc.

Những câu chuyện thường nhật trong đời sống được anh kể lại trong Truyện cực ngắn một cách ngắn gọn, súc tích, giản dị, có tính khái quát cao. Bằng vốn sống phong phú của một người đã nhiều năm hoạt động trong ngành giáo dục, từ giáo viên đứng lớp lên làm cán bộ quản lí, anh có nhiều cơ hội tìm hiểu cuộc sống đa dạng để phản ánh trong tác phẩm của mình. Truyện cực ngắn của anh đề cập nhiều vấn đề trong cuộc sống hôm nay, phê phán những mặt trái, cách sống, nếp nghĩ của con người trong thời kì cải cách mở cửa. Những con người xấu, lạc hậu cùng những việc làm tiêu cực, trì trệ, vụ lợi, giả dối được phơi bày qua những mẩu chuyện cực ngắn, có truyện chỉ có 100 từ, với vài nhân vật và nội dung giản đơn nhưng rõ ràng, làm người đọc suy tư về cái tốt, cái xấu của con người trong cuộc sống đương đại.

Anh phê phán nhẹ nhàng, cảnh báo những hiện tượng không hay trong đời sống mà đôi khi chúng ta cho là chuyện “thường nhật”: Tình trạng thanh niên chạy theo lối sống hiện đại mà xa rời đạo đức truyền thống dân tộc (Chửa con so); Phê phán cách sống thực dụng, vì tiền, dửng dưng, tàn nhẫn trước cái chết “không đúng lúc” của người thân (Không phải lúc nào cũng như lúc nào); Thói giả dối trong tình cảm vợ chồng (Những món quà tinh thần); Tệ nạn đòi ăn hối lộ của kẻ có chức có quyền (Miếu thiêng); Thói háo danh đến độ làm giả hồ sơ, bằng cấp để thăng tiến của một bộ phận cán bộ thoái hoá trong cơ quan nhà nước hiện nay (Sứ mạng một con người); Tệ quan liêu, chạy theo thành tích (Họp hội đồng thi, Thanh tra sắp về)…

Truyện “Hối lộ” là một phát hiện mới lạ đối với người đọc. Xưa nay thường người ta hối lộ quan chức, chứ ai hối lộ dân. Thế mà Hoàng Ngọc Trúc lại phát hiện ra chuyện quan chức hối lộ dân, mới nghe tưởng như bịa, đọc rồi lại thấy đó là chuyện có thật mà ít ai nghĩ tới. Số là những vị quan chức địa phương nọ từng làm sai chính sách nhà nước để đục khoét dân, đến trước kì bầu cử Hội đồng nhân dân, các vị bèn tổ chức “hối lộ” mỗi hộ dân vài ba trăm ngàn đồng để lấy lòng dân, mong được tiếp tục giữ ghế của mình. Vài trăm ngàn đồng đối với quan chức chẳng có gì to tát (tiền lại là của công chứ có vị nào phải bỏ tiền túi đâu), nhưng đối với người lao động ở nông thôn thì quả là không nhỏ. Khi có bác đại tá phản đối, ý đồ của các vị quan chức không thành. Nhiều người dân tiếc “cái lộc” đến tầm tay mà còn bị tuột mất nên trách móc bác đại tá. Truyện có tính bi hài, cảnh báo một hiện tượng tiêu cực ít ai quan tâm, chưa có bộ luật nào đề cập tới.

Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc không chỉ phê phán những con người và hiện tượng tiêu cực, mà còn ca ngợi những người tốt. “Lần gặp gỡ đầu tiên” của anh sĩ quan hải quân và chị bác sĩ quen nhau qua mục kết bạn trên báo dù chưa diễn ra do chị bác sĩ gặp “trục trặc” giao thông trên đường đến nơi hẹn, nhưng người đọc vẫn cảm nhận và tin tưởng chắc chắn cuộc hẹn sẽ diễn ra tốt đẹp. Một bé gái gặp tai nạn giao thông đã dũng cảm vạch mặt bọn người lợi dụng hoàn cảnh trắng trợn “trấn lột” người va quệt vào xe của cháu. Tình cảm của một người mẹ tìm con làm cho chính đứa con bỏ nhà đi lang thang cảm động mà quay về. Truyện “Tên tù trốn trại” ca ngợi người công an nhân dân giàu lòng vị tha, có tinh thần trách nhiệm cao, coi người tù như người thân, bằng hành động tốt của mình đã cảm hoá và giúp người lầm lỡ trở về với cuộc sống lương thiện.

Truyện cực ngắn là thể tài mới và khó. Hoàng Ngọc Trúc đã mạnh dạn và sáng tạo đi sâu thể hiện thể tài này. Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc kiệm lời, hàm súc, sử dụng chi tiết đắt, kịch tính, chủ đề tư tưởng và nội dung trong từng truyện rõ ràng, cụ thể. “Cảm hứng của hầu hết những câu chuyện là phê phán đủ thứ thói tật đời sống. Nhưng vốn là nhà sư phạm nên sự phê phán, chế nhạo của ông cũng mang màu sắc giáo dục, nhẹ nhàng và độ lượng, tin ở lương tri con người” (Hoàng Ngọc Trúc người thiết tha yêu đời – Tạ Duy Anh). Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc hẳn sẽ để lại ấn tượng khó quên cho những ai đọc nó. Vì thế, tôi tin Truyện cực ngắn của Hoàng Ngọc Trúc sẽ được nhiều người đọc, chia sẻ, đồng cảm với tấm lòng tác giả.

___________________________________

TRẦN MỸ GIỐNG index845.html

TRẦN MỸ GIỐNG: Tư liệu về các vị Nho học Hành Thiện thời Nguyễn

Tư liệu về các vị Nho học Hành Thiện thời Nguyễn / Trần Mỹ Giống 

Những câu phương ngôn còn truyền tụng trong dân gian như “Đậu phụ Thủy Nhai, Tú tài Hanh Thiện”, “Xứ Đông Cổ Am, xứ Nam Hành Thiện”, “Thần Chuyên, thánh Nguyện, trạng nguyên Thu”(1)… là sự ghi nhận về truyền thống văn hiến, học hành đỗ đạt nổi tiếng của làng Hành Thiện (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Kể từ năm 1552 đến năm 1919, làng Hành Thiện đã có 352 người đỗ từ Tú tài đến Tiến sĩ trong các khoa thi Nho học.

Thời kỳ phát khoa nhất của Hành Thiện là thời Nguyễn. Từ năm 1807 đến năm 1918, triều Nguyễn tổ chức 47 khoa thi Hương, lấy đỗ Cử nhân 5232 người. Làng Hành Thiện có nhiều học trò  dự thi, “mỗi khoa có chừng 200 người”(2), khoa nào cũng có người đỗ. Tính riêng dưới triều Nguyễn, làng Hành Thiện có 145 người đỗ Tú tài (nhiều người đỗ “kép”, “mền”, “đụp” nên có tới 309 lượt người đỗ Tú tài), 85 người đỗ Cử nhân trong đó có 7 người đỗ tiếp đại khoa. Tỷ lệ người đỗ đạt của Hành Thiện rất cao so với tỉnh Nam Định (khoảng 400 lượt người đỗ Cử nhân) và huyện Giao Thủy cùng thời kì. Huyện Giao Thủy (bao gồm hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy hiện nay), dưới triều Nguyễn, không kể Hành Thiện thì chỉ có 22 người đỗ Cử nhân, 1 người đỗ Tiến sĩ.

Giáo sư Philippe Langlet Trường Đại học Paris (Pháp) đã nhận xét: “Làng có nhiều Cử nhân nhất ở đồng bằng Bắc bộ từ 1802 đến 1884 (Hành Thiện) thuộc về Giao Thủy” (3).

Hành Thiện có 4 người đạt danh hiệu Giải nguyên là Nguyễn Hữu Lợi (khoa Nhâm Tý 1852), Đặng Vũ Thực (khoa Mậu Dần 1878), Nguyễn Âu Chuyên (khoa Kỷ Mão 1879), Đặng Văn Nhã (khoa Đinh Dậu 1897) và 4 người đạt danh hiệu Á nguyên là Đặng Ngọc Toản (Mậu Thìn 1868), Phạm Ngọc Chất (Giáp Tuất 1874), Đặng Văn Nguyện (Kỷ Mão 1879), Đặng Vũ Cao (Ất Mão 1915).

Thời Nguyễn, tỉnh Nam Định có 31 người đỗ đại khoa thì làng Hành Thiện đã chiếm tới 7 người. Đó là các vị: Phó bảng Đặng Kim Toán (đỗ Ân khoa Mậu Thân 1848), Phó bảng Đặng Đức Địch (đỗ khoa Kỷ Dậu 1849), Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (đỗ khoa Bính Thìn 1856), Phó bảng Nguyễn Âu Chuyên (đỗ Ân khoa Giáp Thân 1884), Tiến sĩ Đặng Hữu Dương và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên (đỗ khoa Kỷ Sửu 1889), Phó bảng Phạm Ngọc Thụy (đỗ khoa Tân Sửu 1901).

Sau khi đỗ đạt có 83 người ra làm quan. Nhiều người giữ các chức vụ cao trong chính quyền triều đình Nguyễn như Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Địch, Công bộ Thượng thư Nguyễn Xuân Phiêu, An Tĩnh Tổng đốc Đặng Kim Toán, Tuần phủ Đặng Xuân Bảng, Công bộ Thị lang Đặng Xuân Huyên, Bố chánh Bắc Ninh Nguyễn Âu Chuyên, Án sát Hà Nội Đặng Hữu Dương, Đốc học Bình Định Nguyễn Xuân Tháp… Đa số họ có nhiều công lao đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật, giáo dục. Những tác phẩm của họ viết về y học, văn học, lịch sử, địa lý… hiện còn đến nay là những di sản văn hóa giá trị. Nhiều tên tuổi được ghi nhận là các tác gia như Đặng Ngọc Toản (với Âm chất diễn âm ca, Quốc triều lịch khoa Hương sách tập), Đặng Vũ Kham (với Tập văn và câu đối chữ Hán), Nguyễn Xuân Chức (có Hành Thiện Đặng công hành trạng), Đặng Hữu Bằng (có Việt Nam nghĩa liệt sử), Đặng Xuân Bảng (với Sử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Nam sử tiện lãm, Nam phương danh vật bị khảo, Kinh truyện toát yếu, Thiện Đình thi văn tập…), Đặng Xuân Viện (với Hà phòng quản kiến, Vô danh anh hùng, Hữu danh anh hùng, Nói có sách, Thiện Đình xã chí tập… và nhiều sách chữ Quốc ngữ)…

Các nhà Nho làng Hành Thiện rất quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức, đào tạo lớp trẻ trở thành người kế tục xứng đáng với thế hệ cha anh. Hành Thiện có tới ba chục người từng làm quan giáo dục (3 giảng dạy ở Quốc Tử giám, 2 Đốc học tỉnh, 16 Giáo thụ, 9 Huấn đạo). Hành Thiện có trên hai chục trường học tư do các nhà Nho tổ chức và dạy đã thu hút hàng vạn lượt học trò trong và ngoài tỉnh theo học. Tiêu biểu là các trường học của Cử nhân Nguyễn Bá Nghi và Cử nhân Nguyễn Bá Huống (trước năm 1850), Phó bảng Đặng Đức Địch (1865 – 1874), Cử nhân Nguyễn Ngọc Quỳnh (1865 – 1880), Cử nhân Nguyễn Đôn Thi (sau 1890)… Trường của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên (1894 – 1915) có tới trên 700 học trò, 30 người đỗ Cử nhân, 70 người đỗ Tú tài. Trường của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1878 – đầu TK20) có trên 1000 người theo học, 200 người đỗ từ Tú tài đến Tiến sĩ.

Hành Thiện cũng nổi tiếng có nhiều thư viện tư nhân lớn do các nhà Nho thành lập nhằm phục vụ các sĩ phu và học trò học tập. Đáng kể là các Thư viện của cụ Nguyễn Ngọc Liên, Thư viện Nguyễn Ngọc Quỳnh, Thư viện Đặng Đức Địch…. Thư viện Hy Long của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng được coi là thư viện tư nhân lớn nhất Bắc Kỳ hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Thư viện này gồm 6 gian, sách xếp tới nóc nhà, thường xuyên có 5 người phục vụ, in khắc mộc bản, phát hành sách đi khắp Bắc Kỳ.

Từ xưa, Hành Thiện có quy ước các vị tân khoa đỗ cao nhất làng sẽ được giữ chức Tiên chỉ Tư văn làng. Từ năm 1848 kế tục giữ chức Tiên chỉ Tư văn làng là Phó bảng Đặng Kim Toán (1848 – 1856), Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1856 – 1910), Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên (1910 – 1937), Cử nhân Đặng Vũ Oánh (1937 – 1948), Cử nhân Đặng Vũ Vỹ (1948 – 1949), Cử nhân Đặng Đức Quyên (1949 – 1950), Cử nhân Nguyễn Xuân Phong (1951 – 1954)… Hàng năm Hội Tư văn ba bốn lần mở các cuộc bình giảng thơ văn, luận đàm chính sự để luyện tập thi cử cho học trò, nhờ đó mà có nhiều người đỗ đạt. Nhiều tác phẩm thơ văn được ra đời qua các buổi sinh hoạt của Hội Tư văn. Xin giới thiệu bài “Trăng kháng chiến” trong chùm thơ của Giáo thụ Đặng Vũ Vy đoạt giải nhất cuộc thi thơ năm 1947 do Hội Tư văn tổ chức:

Thiên cung bước xuống diệt xâm lăng

Thống lĩnh ba quân, một chị hằng

Vác búa Ngô Cương ngăn thiết giáp

Giương cung Hậu Nghệ diệt xe tăng

Bốn bề tinh tú truyền vây kín

Muôn kiếp phong ba quyết dẹp bằng

Gác bóng non tây về báo tiệp

Từ nay giặc gấu hết ăn trăng.

Nhiều nhà Nho làng Hành Thiện có công trong việc khai hoang mở đất, được triều đình sắc phong hoặc nhân dân tôn làm thành hoàng làng. Cử nhân Nguyễn Đôn Thi (1853 – 1935) được thờ làm Thành hoàng làng Lạc Nông (thuộc huyện Giao Thủy). Nhị trường Đặng Vũ Kiểm được vua Thành Thái phong làm “Thiện Thành xã phúc thần”. Nhân dân làng Tả Hành (thuộc Vũ Thư, Thái Bình) tôn Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng làm Thành hoàng làng Tả Hành vì công lao khai hoang lập làng. Phó bảng Nguyễn Âu Chuyên là Thành hoàng làng Hoành Quán (thuộc huyện Xuân Trường). Cử nhân Nguyễn Duy Hiếu là Thành hoàng làng Roãn Đông (thuộc Tiền Hải, Thái Bình)…

Nhiều nhà Nho làng Hành Thiện từng tham gia tích cực các phong trào yêu nước như Văn thân, Cần Vương, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội, Đông Kinh nghĩa thục…  Giải nguyên Tri phủ Đặng Văn Nhã “chán cảnh làm quan, chỉ muốn làm giặc”(4) đã bỏ đi biệt tích. Tiến sĩ Tri phủ Nguyễn Ngọc Liên bất bái Toàn quyền Đông Dương De Lanessan, từ bỏ quan chức về nhà dạy học, nêu tấm gương sáng về tiết tháo nhà Nho. Trong phong trào Đông du do cụ Phan Bội Châu tổ chức đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập, làng Hành Thiện có trên ba chục trí thức Nho học lên đường. Tiêu biểu trong số này là Đặng Hữu Bằng (tức Đặng Đoàn Bằng)  đỗ thủ khoa Trường Vĩ bị Tôkiô, sau tham gia quân đội Trung Hoa dân quốc, làm đến Đại tá Tham mưu trưởng. Đặng Huy Dật (tức Đặng Tử Mẫn) làm Ủy viên Kinh tế Việt Nam quang phục hội, hy sinh trong khi tấn công các đồn binh Pháp ở biên giới. Đặng Quốc Kiều sau về nước làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chỉến tỉnh Hà Nam. Đặng Kinh Luân sáng lập Trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, trực tiếp làm Trưởng ban ám sát của Việt Nam quang phục hội. Ban ám sát của ông đã giết tên Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn và hai thiếu tá Pháp là Chapuis và Mongrand. Đặng Hữu Quỳ (tức Hồng Phấn) tình nguyện đi Xiêm La tham gia dinh điền lấy tiền ủng hộ cách mạng. Còn nhiều trí thức Nho học Hành Thiện tham gia cách mạng như Nguyễn Xuân Thức (tức Tử Trung), Đặng Xuân Mâu, Đặng Kinh Bang, Đặng Ngọc Đỉnh, Đặng Dương Đằng…

Từ sau năm 1919 nền Hán học bị bãi bỏ, nhưng truyền thống hiếu học và khoa cử ở Hành Thiện vẫn được duy trì và phát triển. Ngày nay, làng Hành Thiện có hàng nghìn người tốt nghiệp cao đẳng, đại học và trên đại học,  hàng trăm người có học vị Tiến sĩ, nhiều người là giáo sư, nhà văn, nhà khoa học, cán bộ cao cấp trong lực lượng vũ trang và bộ máy chính quyền với các tên tuổi lớn như Đặng Quốc Bảo, Đặng Kính, Đặng Quân Thụy, Nguyễn Sĩ Quốc, Phạm Gia Triệu, Nguyễn Đặng Kính, Đặng Vũ Chư, Đặng Vũ Khiêu, Đặng Hồi Xuân, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Hữu Minh, Trường Chinh…

TRẦN MỸ GIỐNG

……………………………….

(1) Làng Cổ Am (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng) là đất văn vật của xứ Đông (tức vùng Hải Dương, Hưng Yên… ngày nay). Làng Hành Thiện nổi tiếng là đất văn vật của xứ Nam (tức Sơn Nam Hạ xưa, Nam Định… nay). Làng Thủy Nhai (thuộc huyện Xuân Trường nay) có nghề làm đậu phụ, bán khắp các chợ. Còn người Hành Thiện đỗ tú tài, cử nhân, tiến sĩ thì không đếm xuể. “Thần Chuyên, thánh Nguyện, trạng nguyên Thu” ca ngợi ba người học trò tài giỏi của Hành Thiện là Nguyễn Âu Chuyên (19 tuổi đỗ Tú tài, 20 tuổi đỗ Cử nhân Giải nguyên, 25 tuổi đỗ Phó bảng), Đặng Văn Nguyện (đỗ Cử nhân Á nguyên cùng khoa với Nguyễn Âu Chuyên), Nguyễn Hữu Thu (tuy chỉ đỗ Tú tài nhưng nổi tiếng thông minh, học giỏi).

(2) Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục / Nguyên Ôn Ngọc.

(3) Nguồn gốc địa phương của các vị đỗ Cử nhân trong những kỳ thi Hương ở vùng châu thổ sông Hồng (1802 – 1884) / Philippe Langlet // Ngiên cứu Lịch sử. – 1994. – Số 4.

(4) Hành Thiện lịch sử và văn hóa. – H.: Hội đồng hương Hành Thiện, 1995.

Nguồn: http://newvietart.com/index4.1239.html

Đoạn tô màu nâu là tác giả mới bổ sung…

thơ lục bát TRẦN MỸ GIỐNG

 Hồi sinh – tranh Hoàng Đình Hùng

CHÙM THƠ LỤC BÁT TRẦN MỸ GIỐNG

ĐÔI TA

Đôi ta như sáng mai lành

Gương sông ôm trọn trời xanh vào lòng

Tình em như thể nước trong

Hồn anh – trời biếc đắm dòng sông em.

                      EM VỀ

Em về để lại hoàng hôn,

Chén sầu không rửa, ấm buồn không lau,

Bút buồn viết chẳng nên câu,

Sách không đọc, báo dầu dầu không xem,

Phòng văn còn thoảng hương em

Anh như gái chửa quên thèm của chua.

                                TRAI GIÀ

                   Nhằm ngày mồng Tám tháng ba

Chị em bao hết trai già trai non

Trai già nhấp chén rượu ngon

Tưng bừng dậm dật như còn… trai tơ

Chị em ngẩn ngẩn ngơ ngơ

Hỏi… cái vật vờ còn… vật được chăng?

KHẨU TRANG

Khẩu trang của vợ mua cho

Không đeo vợ giận, đeo lo người cười.

Người cười… Cười chán thì thôi,

Nhỡ khi vợ giận đứng ngồi… với ai ?

Màn thả thơ quen thuộc, lần này thêm sức nặng của “gia tài” 80 năm Thơ Mới (1932 – 2012)

THẢ THƠ

Buồn tình thổi bóng thả thơ

Xanh xanh đỏ đỏ vật vờ bay cao

Ngọc Hoàng truyền bác Nam Tào

Hỏi xem hạ giới thằng nào thả thơ?

CÔ ĐƠN

Quanh mình đầy ắp tiếng cười

Tôi cô đơn giữa những người tôi yêu.

HẠNH PHÚC

Một đời mê mải kiếm tìm

Hay đâu hạnh phúc lặng im bên mình.

Thiếu nữ – Tranh Đặng Văn Nam

NGU NGƠ

Nửa đời đuổi bóng bắt hình

Tóc sương chợt ngộ ra mình ngu ngơ.

Trần Mỹ Giống
NGUỒN

TRẦN MỸ GIỐNG khai bút

THẤY TẾT Ở NHÀ QUAN

Trong nhà rượu thịt ê hề

Đô la như nước chảy về đầy rương

Ngoài kia gió lạnh thấu xương

Bao người khốn khó trên đường mưu sinh.

Mồng Ba Tết Nhâm Thìn 2012

TRẦN MỸ GIỐNG

“NGANG QUA CUỘC CHƠI” TÁI BẢN CÓ GÌ MỚI?

MỜI CLICK ĐỌC BÀI VIẾT CỦA TRẦN MỸ GIỐNG:
“NGANG QUA CUỘC CHƠI” TÁI BẢN CÓ GÌ MỚI?
“NGANG QUA CUỘC CHƠI” TÁI BẢN CÓ GÌ MỚI?