Posts Tagged ‘THÁI DOÃN HIỂU’

Những cái chết tức tưởi của nhà văn (KÌ 1)

Những cái chết tức tưởi của nhà văn (KÌ 1)

                    CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

                       

 THÁI DOÃN HIỂU –  (tác giả gửi trực tiếp cho bản Blog NQCC)

Cách mạng Văn hóa ở Trung quốc thực chất là một cuộc thanh trừng phe phái khốc liệt chưa từng có nếu đem so với Tần Thủy hoàng. Mười triệu nạn nhân đã chết thảm dưới tay “người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông. Theo trưng cầu dân ý toàn Trung Quốc thì ông ta có 7 phần tội 3 phần công. Lấy Tần Thủy hoàng làm thần tượng, Mao đã thống nhất được Trung nguyên, nhưng xài tốn xương máu Dân Trung Hoa đến 60 triệu nhân mạng, trong đó chưa kể đến 39 triệu người chết đói trong phong trào đại nhảy vọt cuối thập niên 50 của thế kỷ trước.

Có hai cái chết thương tâm nhất là của Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và Nhà văn lớn Lão Xá. Tôi có theo dõi rất sát và kỹ những ngày tận số của hai ông.

 Ông Lưu Thiếu Kỳ và phu nhân bà Trương Quang Mỹ là người cách mạng chân chính, nhân hậu theo đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã sang thăm Việt Nam và được nhân dân ta tôn kính. Ông bị Mao Trạch đông chụp cho cái mũ “tên lãnh đạo cao cấp chủ trương đi con đường tư bản chủ nghĩa trong đảng”. Ông Lưu bị hành hạ đấu tố, tra tấn, bỏ đói hàng mấy tháng trời, thân bại danh liệt. Còn tác giả Tường Lạc đà Lão Xá người về sau được tặng giải Nobel nhưng Hội đồng Hàn lâm viện Hoàng gia Thụy Điển rút lại vì giải chỉ thưởng cho người còn sống. Lão Xá bị bọn thanh niên choai choai mặc sắc phục Hồng vệ binh xông vào nhà riêng đập ông chết tươi trên bàn làm việc. Chúng hè nhau vứt thi thể ông xuống hồ. Chưa đã, khi thấy xác ông nổi lên, chúng dùng câu móc vào thắt lưng ông kéo lên bờ đánh, đạp phũ phàng. Mao Trạch Đông đã thanh toán sạch những đối thủ chính trị đáng gờm của mình, những người có nguy cơ làm cho cái ghế hoàng đế của ông ta lung lay kể từ “người bạn chiến đấu thân mật của người” là Lâm Bưu,  “tướng bọc đường” Bành Đức Hoài, Bí thư thành ủy Bắc Kinh Bành Chân…

 *

Ở nước ta, một số các nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam cũng có những cái chết bất đắc kỳ tử, mờ ám. Tôi cho rằng những kiểu chết của các vị dưới đây là không minh bạch, vô cùng bất công, cần được công luận minh oan, chiêu tuyết cho những oan hồn:

Thu Hồng           Lan Khai                 Thiều Chửu

Ngô Tất Tố         Dương Quảng Hàm         

Tạ Thu Thâu              Phạm Quỳnh               Khái Hưng

*

Tôn Nữ Thu Hồng hay Thu Hồng (1922-1948), là nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến.

Tôn Nữ Thu Hồng, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1922 tại Tourane (Đà Nẵng), nhưng quê quán gốc là làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên-Huế).

Bà thuộc dòng dõi Hoàng tộc nhà Nguyễn, trước học ở Tourane, sau vào học tại trường Đồng Khánh (Huế).

Năm 18 tuổi (1940), bà cho xuất bản tập thơ đầu tiên (và cũng là duy nhất):Sóng thơ. Tập thơ in đẹp (chưa rõ tên nhà xuất bản), có tựa của Đạm Phương nữ sĩ, và tranh vẽ bìa của nữ họa sĩ Mộng Hoa.

 Giới thiệu  Thu Hồng, trong quyển Thi nhân Việt Nam có đoạn viết:

“… người có cái ý rất đáng quý là diễn đúng hình dáng riêng của hồn mình. Có thể vì thế mà giọng nói của người có vẻ ngọng nghịu rất ít có trong thơ ta….Thực ra, Thu Hồng cũng chỉ là trẻ con ở cái giọng, khi người ta muốn sống hoài trong thời thơ ấu…(vì) người thiếu nữ ấy đã biết tình yêu là “mầm chán nản” và người ước ao:

 Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu,

Chớ len vào sớm quá, tội em mà!

Em nghe như thời ấy vẫn còn xa,

Em chầm chậm để mong còn xa mãi,

Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái,

Hòa nồng hương mà trái lắm khi chua.

 

Thật là ngây thơ trong trắng :

Kìa trăng vỡ trong hồ khi nước động,

Sóng lao xao lấp loáng, ánh xa ngời.

Và búp hoa nghểnh dậy đón hương trời,

Cây tuôn bóng, lửng lơ, đò chẳng lướt!

Cảnh đẹp cứ dàn thêm bước bước,

Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay.

Tơ lòng với đẹp đêm nay

Rộn ràng thổn thức vì say nhiệm màu.

(Sóng thơ – Tơ lòng với đẹp)

Lúc ấy chỉ ngoài 20 tuổi, nữ sĩ đã bắt đầu nhận thức được cái kiếp ngắn ngủi và buồn tẻ của con người.

Lịch trên tường mỗi ban mai tay xé,

Xé dần, đem vứt xuống giỏ mây đan.

Phải đây là xác chết của thời gian?

Mỗi tờ xuống, một ngày đi biệt tích?

Tay ngần ngại cũng thôi đành vô ích,

Vì hôm nay không dính dáng ngày mai.

Lúc bình minh trong sương sớm chưa phai

Là giấy biết thân mình không thể gắng

Người đâu khác dẫu trăm ngàn cay đắng,

Vói tay dài mong níu lại ngày đi

Ý điên rồ người đeo đuổi làm chi,

Tờ mỏng quá, khác đâu ngày qua chóng!

Tình lưu luyến khiến âu sầu phấp phỏng

Lịch cùng ta nào có khác chi nhau?

Lịch hàng năm đem thay đổi một màu

Người một tuổi chớ mơ mòng lui lại

Lịch còn mãi, đời đâu dài được mãi?

Tờ rã tan ra tro bụi chôn vùi…

(Lịch)

Một gịong thơ tinh tế sâu đằm. Năm 1941, bà và thơ của bà được Hoài Thanh-Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942).

Năm 1968, bà lại được Nguyễn Tấn Long-Nguyễn Hữu Trọng giới thiệu trong bộ sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), xuất bản tại Sài Gòn. Và theo sách này, thì nữ sĩ Tôn Nữ Thu Hồng đã chết trong một trường hợp bi đát.

 Thu Hồng là trí thức nói tiếng Pháp thành thạo, nhà cô thường tụ tập các thanh niên trí thức. Cô bị nghi ngờ làm gián điệp cho Tây, bị công an bắt, giam giữ và tra khảo mấy tháng trời, không lấy được cung. Cuối cùng, giết nhầm còn hơn bỏ sót, cô bị thủ tiêu giữa rừng Thừa Thiên. Kể lại chuyện đau lòng này, ông Đào Hữu Thiết cán bộ an ninh người chứng kiến vẫn nhớ như in vóc dạc cao to như gấu, khuôn mặt dữ dằn, rậm râu sâu mắt của tên sát nhân Trừng. Trên đường giải cô lên Ty công An Thừa Thiên – Huế, hắn đã bắn lén cô từ đằng sau lưng. Tiếng súng chát chúa vẫn còn lộng óc khi ông Hoài Nam (bút danh của Đào Hữu Thiết) đã vào tuổi 87. Ông sĩ quan an ninh  ngồi viết tiểu thuyết tình báo trong dàn dụa nước mắt. Ông cũng bị nghi ngờ, bắt giam nhốt cùng Thu Hồng. Ông bảo cô ấy dịu dàng nết na, đẹp lắm, tôi yêu cố ấy. Hai người có làm thơ tặng nhau. Thu Hồng bảo Hoài Nam :

Bên bờ cát trắng phau phau ấy

Ai hiểu lòng mình ? Anh hiểu không ?

 Nàng thơ ra đi ở tuổi 26. Năm đó là tháng chạp năm 1948.

*

 Ngô Tất Tố (1894 – 1954) là một nhà văn, nhà báo, nhà Nho học và nghiên cứu có ảnh hưởng ở Việt Nam giai đoạn trước 1954.). Ngô Tất Tố là đại diện tiêu biểu cho những thay đổi của một lớp người trí thức trong giai đoạn giao thời, sự dung hòa tương thích giữa nền văn hóa mới và cũ.

 Ngô Tất Tố sinh năm 1893 mất năm 1954 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ SơnBắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông AnhHà Nội). Ông là con thứ hai, nhưng là trưởng nam trong một gia đình có bảy anh chị em, ba trai, bốn gái. Lúc còn nhỏ Ngô Tất Tố được thụ hưởng một nền giáo dục Nho học. Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê, sau đó ông theo học ở nhiều làng quê trong vùng. Năm 1912, Ngô Tất Tố học tư chữ Pháp một thời gian ngắn và bắt đầu tham dự các kỳ thi truyền thống lúc bấy giờ vẫn còn được triều đình nhà Nguyễn tổ chức. Ông đỗ kỳ sát hạch, nhưng thi hương bị hỏng ở kỳ đệ nhất. Đến năm 1915, ông đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi hương lần thứ hai, khoa Ất Mão, cũng là khoa thi hương cuối cùng ở Bắc Kì, ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhị.

 Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo. Ông viết cho tờ An Nam tạp chí. Nhưng vì thiếu tiền, tờ báo này phải tự đình bản, Ngô Tất Tố cùng với Tản Đà đã vào Sài Gòn. Mặc dù không thật sự thành công trong cuộc thử sức ở Nam Kỳ, nhưng tại đây, Ngô Tất Tố đã có cơ hội tiếp cận với tri thức và văn hóa thế giới ở vùng đất khi đó là thuộc địa chính thức của Pháp cũng như theo đuổi nghề báo để chuẩn bị sau này trở thành một nhà báo chuyên nghiệp. Trong thời kỳ này, ông viết với các bút danh Bắc Hà, Thiết Khẩu Nhi, Lộc Hà, Tân Thôn Dân…

 Sau gần ba năm ở Sài Gòn, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội. Ông tiếp tục sinh sống bằng cách viết bài cho các báo: An Nam tạp chí, Thần chung, Phổ thông, Đông Dương, Hải Phòng tuần báo, Thực nghiệp, Con ong, Việt nữ,Tiểu thuyết thứ ba, Tương lai, Công dân, Đông Pháp thời báo, Thời vụ, Hà Nội tân văn… với 29 bút danh khác nhau như : Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Trong thời gian những năm 1936-1939, Ngô Tất Tố viết nhiều tác phẩm chỉ trích quan lại tham nhũng phong kiến. Hà Văn Đức, trong bài viết Ngô Tất Tố – Nhà văn tin cậy của nông dân (báo Nhân dân, ngày 10 tháng 6 năm 1997), cho biết năm 1935, Ngô Tất Tố từng bị chánh sở mật thám Hà Nội gọi lên “để mua chuộc”, nhưng ông từ chối. Ngoài ra, nhiều lần Ngô Tất Tố bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà NộiHải PhòngNam Định. Năm 1939, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm tác phẩm Tắt đèn. Nhà Ngô Tất Tố ở Bắc Ninh bị nhà chức trách khám xét và ông bị bắt giam ở Hà Nội vài tháng.

 Về sự nghiệp báo chí, người ta  tìm thấy 1.350 tác phẩm (gần 4.500 trang) đã đăng báo của Ngô Tất Tố với 59 bút danh khác nhau. Năm 2005, tại hội thảo Những phát hiện mới về thân thế và tư cách nhà văn hóa của Ngô Tất Tố, một thống kê khác được công bố cho biết trong 28 năm làm báo, Ngô Tất Tố đã viết gần 1.500 bài (mới tìm thấy 1.360 bài) cho 27 tờ báo và tạp chí với 29 bút danh. Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú, chi tiết, phản ánh toán diện và trung thực xã hộiViệt Nam đầu thế kỷ XX.

Các tác giả trong đề tài nghiên cứu nói trên kết luận rằng tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đạt được năm thành tựu cơ bản: thuyết phục, truyền cảm, điển hình hóa mà không hư cấu; nghệ thuật trào lộng, đả kích và phong cách đậm đà bản sắc dân tộc. Về thái độ làm báo, Ngô Tất Tố được đánh giá là một nhà báo có dũng khí, trung thực, thẳng thắn, nhạy bén và cập nhật tình hình khẩn cấp

Với tư cách là nhà nghiên cứu ,  Ngô Tất Tố nghiên cứu rất nhiều thể loại khác nhau ông rất giỏi về nghiên cứu các thể loại văn thơ

Năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố tham gia vào ủy ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông. Năm 1946, Ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Thời gian này, Ngô Tất Tố đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng chi hội văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu XII,Thông tin khu XII, tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc trung ương… Ngoài ra, ông còn viết văn. Ngô Tất Tố được bầu vào vị trí ủy viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam tại đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1948).

Ngô Tất Tố được coi là nhà văn hàng đầu của trào lưu hiện thực phê phánở Việt Nam trước 1945 với các tác phẩm tiêu biểu như Tắt đènViệc làng,Tập án cái đình.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) từng khen ngợi Tắt đèn là “một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy”. Phong Lê, trên Tạp chí Sông Hươngtháng 12 năm 2003, gọi những tác phẩm viết về nông thôn của Ngô Tất Tố là “một nhận thức toàn diện và sâu sắc, đầy trăn trở và xúc động về cảnh ngộ và số phận người nông dân Việt Nam” đạt đến “sự xúc động sâu xa và bền vững”

 Từ một góc nhìn khác, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, trong bài Ngô Tất Tố và một cách thích ứng trước thời cuộc trích từ cuốn Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2005), viết Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết “rất xúc động” khiến người đọc có thể “nhiều phen ứa nước mắt”.

Còn thiên phóng sự Việc làng được coi là một trong những tác phẩm báo chí toàn diện và chi tiết nhất về bộ mặt nông thôn Việt Nam trước năm 1945. Phong Lê, trong bài đã dẫn, cho rằng Việc làng phản ánh “tận chiều sâu những cội rễ của cả hai mặt phong tục và hủ tục, nó tồn tại dai dẳng đến thế, không chỉ đến thời Ngô Tất Tố viết Việc làng, mà cả cho đến hôm nay”.

 Tính chất giao thời trong ngòi bút của Ngô Tất Tố thể hiện rõ nét trong tác phẩm Lều chõng

Lều chõng ghi lại một thiên phóng sự tiểu thuyết về chế độ giáo dục và khoa cử phong kiến trong những ngày cuối cùng, dưới triều Nguyễn, miêu tả tấn bi kịch của những nhà nho có tài trong xã hội phong kiến và được coi là lời chỉ trích sâu sắc những tồn tại của nền văn hóa cũ.

 Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về sự thay đổi ở Ngô Tất Tố: “ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán có tư tưởng mới” (Nhà văn hiện đại)

 Tác phẩm của Ngô Tất Tố : Ngô Việt Xuân Thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện ký lịch sử, 1935); Đề Thám (truyện ký lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết, báo Việt nữ, 1937), (Mai Lĩnh xuất bản, 1939); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, báo Thời vụ, 1939-1944), (Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Tập án cái đình (Phóng sự,1939); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940-1941), (Mai Lĩnh xuất bản, 1941); Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời Trần (tập II) (trong bộ Việt Nam văn học) (nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử (biên soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, báo Đông Pháp, 1942); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946-1954); Địa dư các nước châu Âu (biên soạn chung với Văn Tân, 1948); Địa dư các nước châu Á, châu Phi (biên soạn chung với Văn Tân, 1949); Địa dư Việt Nam (biên soạn, 1951); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951); Đóng góp (kịch, 1951); Kinh dịch (chú giải, 1953); Ngô Tất Tố và tác phẩm (tuyển tập, 2 tập, Nhà xuất bản Văn học, 1971, 1976); Ngô Tất Tố – Toàn tập (5 tập, Nhà xuất bản Văn học, 1996); Ngô Tất Tố – Toàn tập, bộ mới (dự kiến 30 tập, Nhà xuất bản Hội nhà văn – Công ty văn hóa Phương Nam, 2005).

 Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1).

Gần ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội Văn nghệ Việt Nam họp trên đồi Nhã Nam. Cuộc đấu tố của văn nghệ sĩ diễn ra gay gắt căng thẳng. Người ta đã vu cáo những chuyện tày trời, quyết liệt dồn Ngô Tất Tố vào tận chân tường. Tác giả Lều chõngViệc làng đã phạm tội phục cổ nhằm mục đích gì ?  Và, Ngô Tất Tố đã qua đời vào đêm 20 tháng 4 năm 1954 bằng thắt cổ tại nhà riêng ở Yên ThếBắc Giang. Cái sự chết của nhà văn  khắc nghiệt đến mức nghĩa trang liệt sĩ xã ở địa phương từ chối không cho chôn.

(Còn hai kỳ nữa)…

Chùm truyện cực ngắn của Thái Doãn Hiểu (3)

 

Chùm truyện cực ngắn của

 Thái Doãn Hiểu (3)

 CHÂN DUNG THÁI DOÃN HIỂU

 Thái Doãn Hiểu,

 Viết tiểu thuyết như người đi trên đại lộ, viết truyện ngắn như ngồi trong cửa sổ nhìn ra. Nó chỉ là một nhát cắt. Nhát cắt sắc hay cạn tùy thuộc ở tay nghề và năng lực thẩm thấu cuộc sống của người cầm bút. Tôi vốn bình sinh viết nghiên cứu và phê bình văn học nhưng thể loại văn xuôi này chẳng xa lạ với tôi. Xin gửi tới bạn đọc một chùm  truyện cực ngắn viết theo phong cách cố sự tân biên (truyện cũ viết lại) của văn hào Lỗ Tấn và  truyện cực ngắn với đề  tài hiện đại viết theo phong cách văn hào Sê khốp để thấy rằng lối tư duy hình tượng đã giúp cho những trang văn tư duy tư biện khảo cứu văn hóa của tôi thêm sinh khí.

                                                                                                                                    THÁI DOÃN HIỂU

 HOÁ KIẾP

 

Sáng nay, tại phố N… xẩy ra một vụ án mạng động trời.

 Bà chủ tịch hội phụ nữ quận tên  Khuê đi làm khuya về, qua một quãng đường vắng thì bị một đám thanh niên choai choai chực sẵn xông ra vác vào nghĩa trang, xé nát áo quần lột trần ra rồi thay nhau hãm hiếp. Bà yếu ớt chống không nổi sự hung hãn của lũ trẻ, nhưng đứa thứ 9 cuối cùng, bị bà cắn đứt ngón tay út.

 Sau khi dập tắt được ngọn lửa dâm dục, chúng bỏ mặc cô nằm sóng soài ngất xỉu giữa một đám cỏ nhàu nát. Chúng kéo nhau về quán karaoke ăn nhậu, hút hít, la hét tới tận khuya.

 Bà Khuê tỉnh dậy, toàn thân đau ê ẩm như dần, dưới ánh trăng non cố lết về nhà. Bà kể cho chồng là bí thư quận ủy nghe chuyện khủng khiếp. Ông chồng nổi giận đùng đùng.

 Gần sáng, họ vào thăm phòng con trai đánh thức nó dậy đi học như thường lệ thì thấy cậu quý tử ngủ say như chết, máu loang ra cả chăn nệm, bàn tay phải mất ngón út mới được băng bó sơ sài. Ông bố sùng sục chạy xuống bếp xách con dao bầu xồng xộc lao lên. Bà mẹ quỳ xuống lạy, ú ớ  không ra tiếng. Nhanh như cắt, ông phóng một  đường  dao sắc lẹm trúng tim con. Cậu bé chết đứ đừ, không kịp ngáp, chết mà chẳng hiểu mình chết vì lẽ gì. Ông đã hóa kiếp cho nó.

 Có lẽ sang kiếp khác thằng bé sẽ sống Người hơn ?

 

VẬT HIẾN TẾ HIỆN ĐẠI

 

Một cô gái điếm nghèo có nhan sắc tên là Nguyệt Nga bị bệnh nặng, không tiền để thuốc thang. Ông bác sĩ động lòng trắc ẩn thương tình chữa cho miễn phí.

 Lành bệnh, cảm cái ơn tái sinh, cô đến tạ ơn bằng cách hiến thân đãi ân nhân một đêm vui. Ông bác sĩ xởi lởi nhận lời. Cuộc mây mưa làm tình đang đến đỉnh điểm cao trào, thì bỗng nhiên nghe một tiếng “kịch” phát rõ to và đục  dưới tấm nệm. Ông bác sĩ tưởng bị khủng bố tấn công, hốt hoảng  “Gì vậy”. “Dạ thưa, không có chi, chỉ là cái khay bị vỡ thôi mà”. “ Sao cô làm thế”. “Dạ thưa, em thấy mọi người khi trả tiền bác sĩ  họ đều đặt tiền vào khay, nâng hai tay dâng. Em cũng đặt em lên khay để tỏ lòng tôn kính”

 

DI HUẤN THIÊNG LIÊNG

Bà mẹ trong cơn hấp hối, ghé tai anh con trai trưởng thì thào “Khi tao chết, nhớ quật mồ bố mày lên đặt tao nằm cạnh ông ấy”.

Suốt mấy ngày lễ tang, anh ta rất phân vân.

Ngày bố lâm chung, bố anh căn dặn “Khi nào mẹ mày “đi”  thì chôn bà ấy xa xa mộ bố một chút cho bố nhờ, mát cái lỗ  tai”. Không biết nghe theo lời người nào đây ? được lòng bố thì mất lòng mẹ, được lòng mẹ thì mất lòng bố !  Mà lời di huấn của  đấng song thân bao giờ cũng thiêng liêng cả.

 

TAM NAM BẤT PHÚ

 

 Ông thuyền trưởng lên bờ về thăm gia đình ông anh vợ là nhà giáo. Nhìn anh chị các cháu người nào người nấy xanh như tàu rau, ông cũng đâm ra ái ngại. Học lắm làm chi cho khổ, lại thiếu ăn, đói ngủ.. Ngắm cậu con trai đầu như con nhái bén gò lưng trên bàn làm toán, nhìn thư viện ngút ngàn sách, ông dượng thương hại :

 – Anh Cần này, tôi bảo anh hay, anh đọc hết ngần này sách chỉ thêm ngu người đi mà thôi.

Thằng bé không nói gì quay lại trừng mắt nhìn ông dượng như người ngoài hành tinh mới đến. Ông thuyền trưởng nhìn sang bà chị dâu :

– Hay là thế này, chị đuổi ba thằng con xuống ba góc phố, bơm xe kiếm cơm đĩa sống qua ngày. Chữ nghĩa  có ích gì cho thời buổi này. Thiếu tiền mua bơm tôi cho vay. Còn anh nữa, tôi có bà bạn là chủ tàu vận tải lớn, chồng mới chết tai nạn thủy. Anh bỏ cái nghề giáo kiết đi, tôi xin cho anh chân quản gia.

Bà chị chen vô “kiêm đĩ đực” nữa.

–  Chị thì cứ giỡn. Chuyện nghiêm túc đấy.

–  Tôi cũng nghiêm túc thưa lại với dương là:  cảm ơn dượng đã lo lắng đến đời sống gia đình tôi nhưng chúng tôi từ chối dù hiện nay sinh hoạt rất túng quẫn : lương của anh chị là giảng viên đại học chỉ nuôi được ba con trong một tuần, nhưng bọn tôi sẽ đắp đổi co kéo qua ngày lo cho bọn nhỏ học tới nơi tới chốn..

 *

25 năm sau. Trước đám giỗ cha rất đông bà con họ hàng thân thích đến dự, ông thuyền trưởng viễn dương đứng lên trịnh trọng thưa với mọi người:

– Cái câu tục ngữ “Tam nam bất phú” thời xưa đúng nhưng nay bị vô hiệu hóa rồi, nó trở nên tào lao chi khươn. Như anh chị vợ tôi có mặt hôm nay ở đây là một nhân chứng hùng hồn vậy.

Mọi người chú mục vào ông bà nhà giáo ăn vận nền nã sang trọng dò xét.

–  Anh chị tôi có 3 thằng con trai. Anh đầu 40 tuổi, vợ con định cư ở nước ngoài,  anh hai 37 tuổi có một công ty phần mềm riêng hái ra tiền, anh ba 33 tuổi làm cho hãng điện ABB nổi tiếng thế giới chi nhánh tại Việt Nam. Anh nào cũng phổ cập bằng nghè, làm sếp lớn, ở nhà lầu, đi xe hơi đời mới, vợ đẹp con khôn. Họ lên đời bằng học bằng chất xám. Ông anh tôi từng phát biểu rất chí lý “Đầu tư cho giáo dục lãi vô cực. nếu tính thô thiển thì anh bỏ 1 đồng lãi 10 đồng. Thời thập niên 80 cả thành phố ăn bo bo, ai cũng chạy đôn chạy đáo kiếm sống, riêng gia đình anh chị tôi bằng chân như vại, ung dung ngồi trên lầu cao, ngày ngày đọc sách, viết sách, dạy dỗ mấy đứa con. Anh ấy bảo: nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh của tôi đang gửi cả ở nước ngoài. Tôi dạy bầy nhỏ này lớn lên ra ngoại lấy về cho tôi. Mà đúng thế thật, 15 năm sau, những thứ trên anh có tất, chẳng cần phải ra nước ngoài lấy về. Tôi nói điều này chắc chẳng ai tin : Lương chuyên gia về thủy điện của anh cả ở Australia là 300.000 đô Úc mỗi năm. Mà Đô Úc lớn hơn đô Mỹ kia đấy.

 Bà con vỗ tay !

TỬ HÌNH CẢ BỐ !

 

 Ông Đội về làng thăm nhà, có hai lính bồng súng theo hầu. Oách thật ! Thời Cải cách ruộng đất, “nhất Đội nhì trời”, không oai mà  được à. Ông Đội mù chữ, chỉ biết mỗi chữ ký phải tập đến cả trăm lần mới thành, nhưng  khi ông kê bản án tử hình tỳ lên ghi đông xe đạp ký cái roẹt thì có bốn năm chục mạng người bay khỏi trái đất như gió mùa thu quét lá. Ông là kẻ sát nhân lương thiện giết người sạch sẽ.

 Ông đứng trước cổng, cẩn thận bước qua cánh cửa lim  nặng nề kêu ót ét quay, tần ngần nhìn cơ ngơi dinh lũy phong kiến nhà ông tòa ngang dãy dọc được kiến tạo bao đời, bây giờ nông dân bần cố chia nhau ở, buông một tiếng thở dài não nề. Ông chầm chậm  rẽ phải, đi qua vườn chuối xơ xác. Cuối vườn có một cái ổ chó, nơi gia đình ông bị nông dân tịch biên hết cả gia sản, đuổi cổ khỏi nhà đang cư ngụ trong đó. Ông dừng lại đằng hắng. Một cô bé 7 tuổi chạy ra, mặt lằm lằm, chẳng nói chẳng rằng. Rồi bà mẹ da bọc xương bọc  chống gậy tập tễnh bước ra.

– Bố đâu, mẹ ? Ông Đội hỏi dồn.

Bà mẹ uất lên nghẹn ngào. Cô em căm phẫn:

–  Còn giả bộ hỏi. Anh ký giấy tử hình cả bố còn gì. 43 người tất cả với chữ ký của ông Đội Đỗ Xuyên Tạc còn rành rành ra đó. Chối nữa hay thôi ?

–  Ông Đội sững người, đứng như trời trồng, lâu sau mới thốt nên lời:

–   Trời ơi ! Chúng nó đưa danh sách xử bắn từ xã lên hàng chục người, làm sao đọc xuể, chỉ còn biết hỏi ”tao ký chỗ nào mày ?

Sau những chiến tích “quân pháp bất vị thân” ông Đội Đỗ Xuyên Tạc được cấp trên tín nhiệm, thăng cấp rần rần. Sau Cải cách ruộng đất, ông leo lên đến chức Chủ tịch thành phố  Hải Đông.

 

 

CAO HỔ  CỐT THỨ  THIỆT

 

Nắng trưa chang chang đổ lửa xuống tán cây trùng điệp rừng Cao Bằng. Kỹ sư địa chất Khắc trằn xuống ngâm mình trong dòng nước suối mát lạnh xua đi cái mệt mỏi sau một buổi trèo leo đi tìm quặng, thì vừa lúc kỹ sư Dần – bạn anh lật đật đi ngang qua.

– Hôm nay, mình sẽ về xuôi nghỉ phép thăm nhà. Cậu có quà gì gửi về cho ông cụ nhà cậu không ?

 –  Sao gấp gáp thế ? Biết gửi gì đây được bây giờ ? Á, tớ vừa mua được hai lạng cao hổ cốt của một dân bản người Tày. Cậu mở tủ lấy hộ, ngăn thứ hai bên phài.

Ba tháng sau, kỹ sư Khắc về phép thăm nhà. Ông cụ xuống tận cầu thang đón con trai. Mặt mày hồng hào hớn hở, cụ khoe ngay với Khắc:

 –  Cao thế mới gọi là cao chứ, đúng là cao hổ cốt thiệt, uống vào đến đâu biết đó. Chứng đau nhức toàn thân của thầy không thuốc nào chạy chữa khỏi, cứ êm dần rồi lui hẳn.. Cao thật là tốt. Nhưng sao nó rắn thế ?

 –  Thầy dùng bằng cách nào ?

–  Lấy thanh cật nứa mài với nước chè. Lạ lắm, nó cứ đặc sánh không tan. Thầy trêu mỗi bữa một ít.

Nghe thế, Khắc hơi chột dạ:

– Cao còn nữa không thầy ?

– Còn nguyên một lạng. Phải dè sẻn không dám dùng nhiều. Thánh y thần dược phải để dành phòng xa chứ.

– Thầy lấy ra đây con đổi cho thứ khác tốt hơn.

 Khắc mở ba lô lấy hai lạng cao thật đổi lấy một thỏi dài dài tròn tròn, răn rắn trong tay bố. Lần giở lớp giấy báo ra, nó chỉ là một thỏi cao su đúc ! Thì ra cái thằng đoảng Dần đãng trí đã lấy lộn phải hai chiếc má phanh xe đạp ở chiếc ngăn thứ 2 bên trái..

 Thật lầm lẫn chết người – Khắc lẩm nhẩm – may mà… Rất nhanh, anh đổi lo làm vui:

– Thầy à, loại cao này còn tốt hơn thứ thầy vừa dùng. Đây mới chính là cao hổ cốt thứ thiệt đấy ạ !

* Cái ảo giác nhiều khi cũng là chân lý.

 

 

MÓN ÓC KH

 

 Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các nhân sĩ trí thức Thủ đô Hà Nội. Với một giọng đượm buồn, Người băn khoăn về những tổn thất lớn của Cải cách Ruộng đất mà dư âm còn tê tái và đề nghị các nhân sĩ cho kế sách. Chủ tịch hỏi cụ Phó bảng Phan Võ về nguyên nhân sai lầm. Cụ Phan thưa:

 Tôi xin kể Chủ tịch nghe câu chuyện nhỏ.

Bà  Thục Cơ – ái khanh của vua Minh Mạng lâm trọng bệnh. Vua truyền thánh chỉ “bằng mọi giá phải cứu cho được quý phi. Quan thái y chẩn bệnh kê toa. Trong toa có món óc khỉ sống. Triều đình phủ dụ giao cho tỉnh Quảng Trị cấp tốc tiến cung một bộ óc khỉ sống để làm thuốc.

 Để chắc ăn, tỉnh đường xuống lệnh “Mỗi huyện bắt 5 con khỉ”. Để trừ hao, huyện sức xuống dưới xã “Mỗi xã bắt 10 con khỉ”. Để phòng xa, xã sức “Mỗi tổng bắt 20 con khỉ”. Tổng lại sức cho làng “Mỗi làm bắt 40 con khỉ”.

 Quan lệnh lính truyền, cứ thế làm, không ong đơ chi hết.Lệnh vua chớ đùa, mất cái đầu đội nón như chơi.

Thế rồi, những cánh rừng bạt ngàn thâm u Quảng Trị đang ngủ vùi trong giấc nguyên sinh bỗng chốc náo loạn cả lên bởi cuộc lùng sực săn bắt đại quy mô của hàng trăm phường săn.

 Đến ngày quy định, quan ngự y trong Đại Nội nhận được 1.739 con khỉ. Cả một thị tộc nhà khỉ bị tóm. Khỉ ông, khỉ bà, khỉ cha, khỉ mẹ, khỉ con, khỉ cháu, khỉ chắt rầu rầu, ngơ ngác nhìn nhau qua những chiếc rọ nứa đan xoắn xuýt, nước mắt ngắn, nước mắt dài.

 Chủ tịch chăm chú nghe. Nghe xong, Người ngùi ngùi sẽ sàng nói:

-Vâng ! vâng ! Tôi hiểu ý cụ: sai một ly đi một dặm ! Xin cảm ơn cụ về lời phê bình thật. Ở Nghệ Tĩnh quê mình tổn thất ra làm sao ?

 – Thưa. Vô cùng to lớn. Tôi kể sơ Chủ tịch nghe. Bộ trưởng Đặng Hướng thay mặt Chính phủ về kiểm tra ba tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh. Chân ướt chân ráo vừa đặt chân tới Diễn Châu liền bị du kích tóm ngay tống vào tù với tội danh địa chủ lọt lưới và phản động. Mấy tháng sau ông chết trong tù. Cha ông Phan Đăng Lưu là Phan Đăng Dư ở Yên Thành bị bắt tù ở Bến Hới và bỏ mạng trên đó. Ông Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm ở Hương Sơn – vị đốc học liêm chính, bị bắt giải đi chết trên đường đến trại giam. Ông Bộ Trinh người xứ Dừa hoạt động và bị đày cùng Nguyễn Chí Diểu, Huỳnh Ngọc Huệ, cùng với Tố Hữu bị bắt bị đày các nhà lao Lao Bảo, Đắc lay…bị xử bắn bởi lý lịch mờ ám và phản động. Nhà Phan Bội Châu bị kê biên tịch thu, ảnh của nhà chí sĩ bị vứt xuống chuồng lợn. Những chiến sĩ cốt cán Đảng viên 1930-31 bị vu cáo là Quốc dân đảng, bị dùng cực hình tra khảo đấu tố, cầm tù, tiêu biểu là nhà giáo Thái Doãn Tiên ở Yên Lăng. Bí thư chi bộ Đảng Vầng Hồng ở Yên Hòa, Anh Sơn ông Thái Doãn Yết, nhận chỉ thị của bí thư Cửu Thiện sang làm bang tá hoạt động hai mang, bị kết án “Khiếp nhược trước uy vũ kẻ thù đầu hàng chúng phá hoại cách mạng” và nhận bản án tử hình. Ông Nguyễn Công Trạm – thư ký riêng của cụ Hồ Tùng Mậu bị nông dân Thái Sơn Đô Lương lôi về xử tử, cả gia đình ông chết đói 7 người, ba người bị bỏ tù, gia đình tan nát.  Gia đình ông Cửu Trạm là ân nhân nuôi dưỡng ông Nguyễn Sinh Sắc những năm tháng ông Sắc sang Anh Sơn đi học. Nhiều thân hào địa chủ  biết trước kết cục bi đát như thế nên đã treo cổ tự tự. Số bị bắn chính thức theo chỉ tiêu trên bổ xuống nhiều vô kể, mỗi xã 6 mạng, không ngày nào là không ngớt tiếng súng. Theo thống kê của quyển Lịch sử kinh tế Việt Nam, NXB Sự Thật 1957, tổn thất của CCRĐ toàn miền Bắc lên đến 172.008 người bị  giết và nửa triệu người bị hại…

 – Vâng ! Con số không nhỏ. Hồ Chủ tịch lấy khăn tay thấm nước mắt.

 

CHÂU VỀ HỢP PHỐ

 

 Ông Sĩ là doanh nhân thành đạt giàu có đến nghỉ mát ở thành phô H. Ông mới thửa một chiếc đồng hồ hiệu Rôlếch ngay trong chuyến công du đến Pháp.

 Ông đi bát phố bằng tắclô để tìm khoái cảm trần thế. Khi về đến nhà thì chiếc đồng hồ đắt tiền của ông bay hơi lúc nào không hay.

 Ông đem chuyện  này phô với bạn ông là Chủ tịch thành phố H. cho dịu bớt bực mình, chẳng có một chút hy vọng nào vớt vát lấy lại với tụi kẻ cắp chuyên nghiệp nhiều như rươi ở thành phố này.

 Chiều đến. Có chú công an sắc phục chỉnh tề tìm đến khách sạn trao chiếc đồng hô  Rôlếch cho ông Sĩ  với một lời xin lỗi cung kính.

 – Xin ngàn lần tha thứ cho sự lầm lẫn của đám đệ tử. Thật không ngờ là ông đây và thủ trưởng của chúng tôi  lại  là chỗ thân tình đến thế.

Ông Sĩ đứng ngẩn người ra   !…

 

LÀM VUA SƯỚNG LẮM CHA À !

 

Thằng Trình ba tuổi thỏ thẻ với cha :

– Làm vua sướng lắm cha à ! Cha không biết đó thôi.

– Thế cơ à ! Sướng ra làm sao, con trai ?

– Sướng quá chời ! Giả tỷ như ta có thể ra lệnh : “ Lính ! Mày chạy mau qua bên kia đường mua cho ta một cây kem 5 xu để ta mút”.

Ông bố tròn xoe mắt :

– Còn gì nữa không con?

– Từng ấy đủ rồi – Cậu bé tưng hửng, cái mặt vênh lên.

 

 

QUẢ BÁO NHÃN TIỀN

 

Sài Gòn sau giải phóng.  7 h kém 23 phút  ngày 24-11-1975, tại vòng xoáy  Cộng Hoà đường Nguyễn Văn Cừ xẩy ra tai nạn thật kinh hoàng. Một cô gái trẻ lái chiếc honda chở mẹ bế cậu con trai một tuổi đi cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng đã chui tọt vào gầm xe tải làm tử vong tại chỗ cả ba người.

 Ông chồng đứng trước một đống thịt bầy nhầy máu mê lênh láng của người thân, ngất xỉu. Cay đắng về đời sống vô thường, ảo ảnh, từ đó sống thui thủi một mình. Ít lâu sau, những bạn bè thân thuộc thấy anh ta xuống tóc, khoác áo nâu tu hành trong một ngôi chùa vắng ngoại thành.

 Người ta đồn rằng hồi còn sống trong cứ, anh ta là tay thiện xạ nhất đơn vị, chuyên kiếm thực phẩm cho cơ quan bằng cách săn bắn thú rừng. Anh ấy đã hạ sát 6.783 con thú gồm mễn (hoẵng), cheo, gấu, bò tót, gà rừng, nai, trăn, kỳ đà, khỉ … Người đời ngao ngán chép miệng “gieo gì gặt nấy”.

ÔNG ĂN CHẢ BÀ ĂN NEM

 

 Cậu ấm mang về nhà một cô gái xinh đẹp ý chừng ra mắt gia đình. Ông bố là Tổng Giám đốc một tập đoàn kinh kế lớn của thành phố giật mình. Sau một hồi xét nét, ông lắc đầu:

– Không được đâu con !

– Vì sao ạ ? Nàng đẹp người đẹp nết, có bằng Thạc sĩ kinh tế.

Ông bố vẫn quầy quậy:

– Không được là không được

Cậu con trai tiu nghỉu chán cho cái quyền uy gia trưởng của bố.

Chờ con trai tiễn người yêu ra về lên phòng khách, ông bố chận lại, nói nhỏ vào tai cho cậu đủ nghe:

– Nó là con ngoài giá thú của bố,  tức là em gái ruột của con ! Hiểu chửa ?

 Bẵng đi một thời gian sáu bảy năm, cậu quý tử lại sau ba nhắm bảy nhót mang về nhà một nàng khác đẹp như hoa hậu hoàn vũ. Ông bố nhăn nhó :

– Lại vẫn không được đâu…

Bà mẹ lúc đó có mặt trong phòng khách nghe thủng câu chuyện, tuyên bố một câu xanh rờn :

– Cưới được chứ con. Hai đứa khác hoàn toàn dòng máu. Con đâu phải là con trai lão ấy.

 

 

BA LẦN ĐẾN THĂM ANH

 

 Có lần, tôi đến thăm một anh bạn  là thầy giáo dạy văn cấp 3 ở một ký túc xá  trường huyện. Tôi thoáng thấy bóng một giai nhân từ trong nhà anh Nam Ninh vội vã bước ra ngõ. Tôi bắt gặp mùi hương trinh bạch từ người con gái yêu kiều vẫn phảng phát đâu đây quyện với hương hoa hồng dịu mát quyến rũ từ bình hoa sứ đặt trên bàn làm việc. Còn gì nữa đây ? Tôi cầm tờ giấy hồng bạch lên – Thơ,  lại thơ – xin phép chủ nhân đọc  nhé. Tôi đọc :

 Năm xưa đến thăm anh

giường đơn chồng sách lạnh

bình hoa bụi bám cành…

 

Năm ngoái đến thăm anh

gối hồng say nệm trắng

bình hồng hương toả bay…

 

Năm nay đến thăm anh

màn xanh buông cửa ấm

hoa đào cười giữa nôi…

 

Năm xưa chúc giường Thầy thêm gối

Năm ngoái chúc nhà Thầy thêm nôi

Năm nay chúc lòng Thầy trẻ mãi!

 

– Thì ra là thơ Ý trung nhân của anh tặng đây ? Hay ! Quá hay ! Súc tính như một truyện ngắn. Cánh nhà văn chúng mình có cô đặc mực cho ngòi bút được như thế không nhỉ ?

Giọng Nam Ninh chùng xuống, trầm buồn:

– Vâng, cố nhân đấy. Chúng tôi không tiến nổi đến hôn nhân vì quá nhiều rào cản, anh ạ.

(Rút trong tập truyện THỬ GIẢI MÃ SẤM TRẠNG TRÌNH

của THÁI DOÃN HIỂU, gồm 214 truyện. Chưa xuất bản)

 

 

LỜI BÌNH  CỦA TỪ ANH TUẤN :

        Lỗ Tấn viết “cố sự tân biên” bằng những truyện ngắn khá dài. Vì vậy, Ông có đất để sáng tạo. Trong những “cố sự tân biên” của Ông thì “Luyện kiếm” là một sáng tạo kì tài. Cách đây hơn 50 năm, khi còn là một học sinh cấp II, tôi đã mê mẩn truyện ngắn đó và đã đọc đi đọc lại mấy lần liền mà không biết chán.

       “Cố sự tân biên” mà viết bằng truyện ngắn mi ni thì cực khó vì nhà văn phải diễn tả “cố sự” ấy như một vở kịch cực ngắn mà vẫn có lớp lang, có nhân vật, có tình tiết, có kịch tính…Và cái chính là phải nêu lên được một triết lí, một kết luận…nhằm gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc, buộc họ phải suy ngẫm.

        Đã là “cố sự” thì thường là nhiều người biết và đã định hình. Hơn nữa phải “viết lại” chứ không phải “chép lại”. Khi viết lại, nhà văn phải sáng tạo như thế nào đó để người đọc “thuận tai”, không thấy nhàm chán. Đó là một yêu cầu không dễ thực hiện. Sáng tạo là cốt lõi, là điều bắt buộc của “cố sự tân biên”. Anh chọn thể loại truyện ngắn mi ni để  “viết lại” những “chuyện cũ”  thì Anh đúng là “người dũng” trong văn chương!

        Trong dăm truyện ngắn mi ni Anh gửi cho, tôi thích nhất truyện “Ôm lấy của nợ đó mà làm gì?”.

        Tôi nhớ, trước đây, trong bài tham luận gửi Đại hội các nhà văn Việt Nam (tôi quên mất năm nào), Nguyễn Huy Thiệp có kể rằng, khi học trò hỏi Khổng Tử là nếu làm chính trị thì Ông sẽ làm gì trước tiên. Nguyễn Huy Thiệp bảo lúc ấy Khổng Tử cau mặt, càu nhàu trả lời: “Ta sẽ chính danh trước”.

       “Chính danh” là một trong những học thuyết nổi tiếng khoảng 2500 năm nay của Khổng Tử, một bậc “Thánh nhân””, một “Vạn thế sư biểu”. Mỗi câu mỗi chữ của Ông đều thành “Kinh”, thành “Điển”. Vậy mà ngày nay Nguyễn Huy Thiệp diễn tả Khổng Tử cau mặt, càu nhàu khi trả lời học trò việc mình phải “chính danh” trước khi làm chính trị là một sáng tạo rất tài hoa.

       Trong truyện “Ôm lấy của nợ đó mà làm gì?”, Anh lại diễn tả Khổng Tử ” vuốt râu bình đạm” (tôi thấy hình như Ông ấy còn tủm tỉm cười) khi trả lời “thắc mắc” của học trò, rằng Ông đã dùng mẹo khích tướng nhằm đuổi hai kẻ hủ nho gàn dở đến quấy rầy mình cũng là một sáng tạo rất lí thú.

 

LỜI BÌNH CỦA TRẦN MẠNH HẢO :

Bác Thái Doãn Hiểu viết truyện ngắn siêu. Mỗi truyện là một thông điệp thâm thúy.

Về truyện ngắn, bình sinh tôi chỉ phục Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Lưu Vũ,  Thái Doãn Hiểu.

 

LỜI BÌNH CỦA NHỤY NGUYÊN :

Mảng truyện ngắn thật có giá trị, nó không thua kém gì mảng nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng của chú.

 

LỜI BÌNH CỦA ĐỒNG THỊ CHÚC

 Tôi biết nhà nghiên cứu và phê bình VH Thái Doãn Hiểu đã viết đến hàng trăm truyện ngắn. Tôi may mắn đọc được một số truyện . Nhưng với chỉ một số đó thôi, tôi đã cảm thấy thật thú vị . Qua truyện của ông giúp tôi hiểu về ngày xưa , nhân vật xưa mà tôi chưa hề biết. Có truyện như điển tích, có truyện như giai thoại và tất cả đều rút ra ý nghĩa hay bài học gì đó cho người đọc nó. Với lối viết ngắn, kiệm lời pha chút hóm hỉnh làm người đọc có lúc bật cười bởi chợt nhận ra một điều gì tâm đắc. Chính vì vậy  đã khiến người đọc nó khi đã đọc hết truyện này sẽ muốn đọc truyện tiếp theo.

 

Xem thêm:

Chùm truyện cực ngắn của Thái Doãn Hiểu  (1)

http://www.nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/tha%CC%81i-doa%CC%83n-hie%CC%89u-chu%CC%80m-truye%CC%A3n-cu%CC%A3c-nga%CC%81n.html

Truyện ngắn  Buôn vua  (2)

http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2013/08/10/buon-vua/

http://buikimanh.vn/ve-ban/van/buon-vua-thai-doan-hieu

 

 

 

 

 

 

truyện ngắn Thái Doãn Hiểu: BUÔN VUA


 BUÔN VUA

Truyện ngắn của Thái Doãn Hiểu

 

 Chân dung Thái Doãn Hiểu

Thái Doãn Hiểu, 2010

Sau này, mỗi lần đi qua quán Trung Tân của Trạng, tôi lại lặng lẽ mỉm cười trước cái bả lợi danh mà người đời thời nào cũng ham hố. Xưa, Lã Bất Vi từng rấm hạt giống của mình để buôn một ông vua và  thừa tướng họ Lã đã chết bất đắc kỳ tử vì ông vua con do mình lai ghép đó.

Trong các hàng hóa bán mua ở trên chính trường, có lẽ món béo bở có lãi  thượng thặng  là món kinh doanh quyền lực. Món này dễ mất đầu như bỡn nhưng không ai ngán mà từ bỏ nó cả. (TDH)

*

 

Những ngày còn dạy học trên quê hương  Trạng Trình, chiều chiều tôi (Thái Doãn Hiểu) thường thơ thẩn một mình dạo chơi ngắm cảnh mặt trời tà đỏ ối trên sông Tuyết mà chạnh nhớ đến Phu Tử người hiền.

Có lần đi qua nền cũ quán Trung Tân, tôi bật cười vì một sấm ngôn do một bà tuổi sồn sồn bất chợt xướng lên oang oang cho một bà bạn đi chợ hôm về cùng nghe:

Bao giờ ngựa đá sang sông

Thì dân Vĩnh Lại quận công suốt làng!

Ngựa đá thì làm sao lội qua sông được nhỉ ? Lỳ khôi quá ! Vĩnh Lại là làng của Trạng Trình  rồi, nhưng ai làm quận công mà nhiều rứa ? Cả một làng quận công chứ chẳng chơi ở một xó làng quê nghèo kiết, hiền khô ở mé bể xa tít kinh kỳ này ! Ái chà ! Làng Cổ Am xưa kia đã từng  hiển hách xài sang đến nhiều thế ư cái danh tước hiếm hoi thông thường cả nước may lắm chỉ có độ vài ông.

Tôi đem chuyện này ra hỏi anh Nguyễn Văn Khoảng – hậu duệ xa đời của Trạng. Nhiều sấm ký của Tổ, anh Khoảng rất rành nhưng chuyện này thì ông chánh văn phòng trường cấp III Vĩnh Bảo nghểnh ngãng bảo là không hay. Tôi lại đem hỏi một vài vị cao niên, họ cũng lắc đầu không biết nốt, Và rồi sự tích ngựa nghẽo, quận công đầy quyến rũ trong tâm trí tôi cứ chìm dần vào lãng quên giữa công việc dạy dỗ với chuyện áo cơm ì xèo thường nhật.

Bẵng đi lâu lắm, một dịp tình cờ tôi sang Ninh Giang chấm thi, gặp ở bến đò Chanh một bô lão đầu quấn thủ rìu, quần nâu áo chằng nhưng có cặp mắt tinh lạ không phải mắt người thường, làm nghề chở đò trên sông giải mã cho nghe câu sấm ấy. Ông lão ngoắt cây sào dài khua vào be lộp cộp, đẩy con thuyền nát bơi ngược dòng, ngoặt cái mũi thuyền đã quay sang ngang.

Lão kể:

Khi hồi hương ẩn cư lập ra quán Trung Tân, Phu Tử có sai gia nhân tạc một con ngựa đá đặt ở xế của quán ven bờ sông Tuyết. Con ngựa đá tầm thước sống động nhong nhong tưởng nôn nóng muốn tế vó nhưng nó sợ tấm bia đá đứng cạnh với hàng chữ Nho khắc rất bay bướm như đùa nên bồn chồn đứng yên, bức bối “Hà thời thạch mã độ giang – Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu”. Ngựa đá và bia đá sấm tạc từ năm 1557, trở thành kỳ quan của làng thu hút không biết bao nhiêu kẻ hiếu kỳ tứ phương. Tấm bia và ngựa đá kiên gan đứng đó tắm mưa nắng, gội thời gian như một câu đố bí hiểm sừng sững  suốt hơn hai thế kỷ. Những đầu óc thông thái thời kỳ ấy đoán già đoán non mò không ra lời đáp.

Tới năm 1777, trời làm một cơn đại hồng thủy, đê vỡ, nước ngập lai láng, ngựa và bia đá biến đâu  mất tăm. Dân làng cũng chẳng còn hơi sức đâu để ý đến nó. Họ lo hàn đê, dựng lại nhà cửa, tổ chức lại cuộc sống sau cơn thủy tai. Ba năm sau, một gã nông phu đi thả ống trúm bắt lươn moi được con ngựa đá vùi trong bùn cát bên hữu ngạn Tuyết giang. Đó chính là con ngựa đá của Trạng bị dòng xoáy lũ ném từ tả ngạn quán Trung Tân sang đây.

Chắc có điềm trời báo mộng chi đó, dân làng sợ động đến oai trời nên lập miếu thờ, dựng ngựa đá dậy ngay chỗ huyệt ngựa vừa đào được.

Cái năm “Ngựa đá sang sông” cũng là năm đất nước khốn khổ này xảy ra nhiều thác loạn. Tại Kinh kỳ, ông chúa Trịnh Sâm vì mê đắm bà Chúa Chè Tuyên phi Đặng Thị Huệ, mà bỏ trưởng Trịnh Tông lập thứ đưa đứa con nít ba tuổi đầy sài đẹn con ả (Trịnh Cán) lên ngai làm bọn lính Tam phủ nổi giận. Sâm vừa băng hà là chúng làm binh biến giết Cán, giết luôn cả quận Huy Hoàng Đình Bảo phò Khải lên giá ngay. Cậy công cậy quyền, bọn kiêu binh lộng hành làm đủ trò ngược ngạo. Chúng tỉa dần bọn cận thần tay chân của Khải, con khinh Khải không khác gì đứa nặc nô.

Lúc ấy, ở Đàng Trong, thanh thế Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lẫy lừng sét vang sấm nổ. Chỉ sau mấy trận giao tranh, Nguyễn Huệ diệt tan Chúa Nguyễn. Thừa thắng quân Tây Sơn có Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn đường rầm rộ kéo binh mã ra bắc quét sạch Chúa Trịnh cùng đám kiêu binh bọt bèo làm cho ông vua trẻ Lê Chiêu Thống chạy bạt vía. Quân Tây Sơn thu đất nước về một cõi.

Ông Huệ bấy giờ trong mắt dân chúng, sĩ phu và nhất là cựu thần nhà Lê ở Bắc Hà chỉ là một gã bạch đinh áo vải ấp Tây Sơn, nhờ thời thế ngả nghiêng, chỉ chưa đầy năm đã đạp đổ một vua hai chúa, lên ngôi chúa tể hùng cứ  sơn hà nên vừa sợ, vừa phục, lại vừa khinh. Họ nổi lên như ong như kiến khắp nơi để phù Lê.

Nghe tin tướng Hoàng Phùng Cơ dấy binh ở Sơn Tây, Chiêu Thống lẻn theo họ Hoàng. Vua vừa tới nơi thì Cơ đã bị thượng tướng Tây Sơn Vũ Văn Nhậm giết, quân doanh tan hoang. Hoảng hồn, vua khóc như bò con lạc mẹ, trốn chạy về cửa sông Luộc, mong được nương tựa quận công Đinh Tích Nhưỡng. Nửa đêm tới Sơn Nam có tin dữ: ngài Đinh tướng quân, dòng dõi Đinh Văn Tả  tập ấm 18 đời quận công này đã bị đô đốc Ngô Văn Sở đánh tan, phải cuốn cờ  bươn xuống Hải Đông (Hải Dương), Chiêu Thống lại đổi hướng lần mò về phía ấy. Khi sang đò bến Đầm, đức vua bị bọn lái đò họ Trần lột hết cả long bào lẫn bọc hành trang cùng vàng  ngọc quý giá, tống cho một đạp lộn cổ xuống sông, xong chèo đò cút thẳng. May có cận thần Lê Quýnh lén dấu được quả ấn “Truyền quốc bảo”, đang khi chộn rộn nhảy ào xuống sông trốn thoát. Vớt được ngài ngự lên, ông chú họ của đức vua lấy lời yên ủi, dặn dò “Tâu bệ hạ, thế giặc giờ đang cường như con nước lớn. Chúng là hùm beo lang sói. Muốn khôi phục lại giang sơn, bệ hạ không thể cậy trông vào lũ mạt dân Bắc Hà được. Quân tướng triều đình giờ chỉ còn là một đám ô hợp khốn nạn, bám vào chúng chết chìm cả lũ.  Muốn trục được giặc dữ ra khỏi xứ, hạ thần phải lặn lội sang Tàu một chuyến mới xong”.

Lê Chiêu Thống ngoi ngóp trong bụi dứa gai ướt lướt thướt mừng rơn, mếu máo “Phải ! Phải ! Hoàng thúc hãy nên vì sự nghiệp nhà Lê ta mau mau bôn tẩu sang Thanh triều cứu cấp, trẫm sẽ lưu lại trong nước hô hào dân chúng lập một đội nghĩa cử cần vương làm hậu thuẫn cho quan quân Thiên triều”. Lê Quýnh cung kính trả quả ấn vàng cho vua  “Đúng quá ! Hay lắm ! Thần cũng nghĩ vậy. Muốn chính danh phải có quả ấn vàng này trong tay. Bệ hạ nên giữ vật báu cẩn thận để hiệu triệu đắc lực và phong thưởng cho những ai tận trung báo quốc”. Vua ngượng ngùng lận quả ấn vào lưng cải trang giả làm thường dân. Vua tôi sụt sùi chia tay, kẻ ngược lên mạn bắc, người lần mò xuôi về phương nam.

Mờ sáng hôm sau, Lê Chiêu Thống vừa từ một tòa miếu đổ nát nơi ngài nghỉ qua đêm bước ra thì thình lình đã nghe thậm thịch những bước chân người chạy sấn sổ đến trước mặt, hò hét chỉ trỏ om sòm “A ha, đây rồi, anh em ơi, tìm mãi đức vua đây rồi !”. Đầu óc Chiêu Thống nổ đôm đốp, môi  líu ríu chối “Bậy nào ! Vua… Ai vua?! Các bác chớ nói nhảm mà mang tội cả lũ chứ chả chơi đâu !”. Một bọn chục người hò nhau xông vào cõng vua băng xuống thuyền, mặc cho đức ngài khiếp hãi gân cổ lên hết sức cãi. Định thần lại, trời ! Vua nhận ra cái chính bọn cướp ngày hôm qua đã trấn lột mình, tống mình xuống thăm hà bá đây mà.

Thì ra, sau khi khoắng được một mẻ bẫm, chủ thuyền Trần Sinh cho thủ hạ mời Trần Thành – cha hắn đang đỗ thuyền gần đó tới.  Nghe thủng chuyện, lão Trần Thành như kẻ động kinh, trợn tròn mắt, giẫm chân đấm ngực thùm thụp, thét “Cả một lũ chó lợn, ăn phải giống gì ngu độn thế. Tụi bay đã bỏ lỡ một cơ hội nghìn đời có một!”. Bọn thuyền chài quần quày áo cụt nghe chửi mặt thộn cán tàn. Lão Trần tức tối ném phịch cái áo long bào ra trước bấy nhiêu khuôn mặt ngơ ngác, gắt như mắm ruốc “Cướp lấy cái vật gở này làm chi hở trời, lợi lộc gì cho cam ! Bán không ai dám mua, cho không ma nào dám lấy, giữ thì có phải mình mày bị chém bay đầu thôi đâu mà có khi cả tam tộc mồ tổ nhà mày sẽ làm quỷ không đầu”. Bọn thuyền chài thấm sợ, co mình lại trước câu đe rùng rợn.

Vợ Trần Sinh láu táu chen vô “ Hay là bố mày vứt mẹ nó xuống sông ngay đi, rước chi của nợ này trong nhà để chuốc họa vào thân ?” Lão già được thể vểnh râu, quắc mắt “Làm thế mà chạy tội được à?”. “Biết xoay xở làm sao hở trời” – Trần Sinh thở dài than. Chờ cho những lời bàn tán lắng xuống, buông một tràng cười tinh quái, lão Trần vuốt râu tủm tỉm “Xưa nay, chúng  mày chỉ biết chài chài lưới lưới, thả câu bắt cá đem ra chợ đổi gạo. Nay, chúng bay có dám cả gan đi buôn không nào ?” “Buôn gì cơ ?” – “Buôn một ông vua !”. Chúng trố mắt kinh dị. Lão ra lệnh “Chúng bay hãy chia nhau sục tìm cho ra cái ông vua mất ngai mà chúng bay đã lột trần như nhộng ấy đem về đây hết lòng phụng dưỡng rồi phò tá ông ta đến chỗ ông ta muốn đi. Khi sóng yên bể lặng, chúng bay tha hồ mà lãnh ơn đền nghĩa đáp, thỏa sức hưởng phú quý vinh hoa. Tao đồ rằng chủ nhân của chiếc áo này phải là thiên đế chân mệnh đâu phải tay tẹp nhẹp, chẳng qua gặp bước lưu ly, khuất khúc nhất thời đó thôi !”. Thật là qủy kế, lão già quả đa mưu túc trí. Bọn chúng hí hửng, đang đêm đỏ đuốc táo tác chia nhau túa ra lùng sục khắp bãi bờ tầm ông vua.

Tìm được Lê Chiêu Thống, chúng dong thuyền áp thẳng về làng Vĩnh Lại, cung kính rước vua lên từ đường thờ tổ, mật báo cho cả họ đến lạy mừng sì sụp. Lê Chiêu Thống mừng sợ ngổn ngang. Ngay trước thiên nhan, cả họ bàn  kế sách ứng phó. Chúng bàn : “Đinh Tích Nhưỡng đang đóng đại bản doanh ở Kim Thành cách xa ta không bao lăm, chỉ độ vài ba chục dặm đường. Nếu ta đưa đức vua về đó, bao nhiêu công lênh họ Đinh phỗng trọn, còn nước mẹ gì cho bọn đánh cá họ Trần ta nữa !”. Một tôn ông ra dáng kên kên bàn góp “Ai bảo đánh cá là nghề hèn mọn ? Gã Trần Lý (Trần Thủ Độ) xưa kia chẳng hành nghề chài lưới đấy sao ? Hắn ta chạy kiếm ăn lần hồi từ Yên Sinh (Đông Triều) đến vùng nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven sông Hồng (Hà Nam), qua Bát Xá, Nông (cạnh sông Luộc). Phúc bảy mươi đời nhà gã có đứa con gái nhan sắc Trần Thị Dung gả cho hoàng thái tử Sảm (sau này là Lý Huệ Tông) mà cả họ vớ bở, nhất loạt được phong hầu. Về sau gã ma mãnh tiếm luôn ngai vua họ Lý, khuynh loát bá chủ thiên hạ. Nay, họ Trần chúng ta cũng chẳng thiếu gì tay kiệt hiệt như Trần Thủ Độ. Vận trời đã đổi dun dủi trao đấng quân vương này vào tay bọn ta, lẽ nào bọn ta lại không bắt chước Trần Thủ Độ dốc toàn toàn tâm toàn lực phò vua giúp nước, dại chi cờ đến tay không phất lại đem vào tay cho họ Đinh hưởng ? Mà cái ông tổ họ Đinh tên Văn Tả kia xưa cũng chỉ là một gã khố dây cù bất cù bơ kiến ăn quẩn ven hồ Tây, may nhờ kéo hộ chiếc thuyền rồng vua đi du xuân mắc cạn  được vênh vang võng lọng chứ có hiển hách cái quái gì !”. Nói đoạn, đám họ Trần xếp hàng nhí nhố trước mặt rồng, sụp mọp xuống lạy năm lạy thề sống thề chết phò vua dẹp giặc đền ơn nước.

Trong khi quỳ lạy, một gã chợt trông thấy kim ấn thòi ra ở thắt lưng gần rốn thiên tử. Ông trưởng họ Trần ra dáng khúm núm trịnh trọng xin đức vua trước hãy giáng chiếu phong tước cho mình đã. Có phẩm trật cao sang rồi thì mới mưu bá đồ vương lo chuyện đại sự được, chứ không có cái khoản này thì nói ai người thèm nghe theo ?

Như ngồi trên lưng cọp, hoàng thượng rầu rầu len lét đem các chức “lãnh binh”, “đô đốc” ra biếu tặng. “Lãnh binh”, “đô đốc” là cái thá gì, phải “quận công” cơ, “quận công” mới vẻ vang, mới oai ?”. Chúng  huơ chân múa tay nhất loạt bức bách vua. Cá đã nằm trên trốc thớt, phật ý chúng là bỏ bu, vả đã đến nước này thì “quận công”, “đô đốc”, “tể tướng” hay “thái sư” cũng thế cả thôi, bất quá chỉ tốn công in phẹt cái ấn quẹt son lên tờ giấy bản bọn họ đã thảo sẵn, chứ có mất mát gì. Vị hoàng đế trẻ chậc lưỡi, nuốt vội tiếng thở dài đắng họng, dụ “Phẩm hàm sắc phong là vật báu của triều đình xưa nay chỉ dành ân thưởng cho kẻ có công với nước. Nay, không nỡ phụ lòng trung trinh chí cốt và công cứu mạng quả nhân trong cơn hoạn nạn, trẫm bằng lòng ban thưởng cho các khanh. Nhưng khi được hưởng lộc nước rồi, các khanh phải gắng lập công chớ phụ lòng trông cậy của trẫm”. Roẹt một cái, năm bảy tờ giấy bản đã được vua tự tay áp triệt quốc bảo đỏ lòm. Mấy vị tôn trưởng họ Trần từ phận khố rách áo tải nhảy phốc một cái lên hàng nhất phẩm triều đình.

Thấy thang công danh mấy vị tôn huynh leo dễ ợt, mấy bác nhàng nhàng trong họ đâm ghen, kỳ kèo đòi vua ban cho mình những tước hiệu cao quý hệt như thế. Chiều Thống thành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, lại phải nai lưng ra đóng luôn cho mấy “đạo sắc” nữa.

Tin tức nhanh chóng lan truyền khắp họ. Bọn trai đinh họ Trần thấy cha chú mần ăn ngon ơ, chẳng tốn mấy tí nước bọt  mà kiếm chác được sộp, liền lục tục kéo đến. Chúng quay ra công khích phỉ báng các tôn huynh ích kỷ chỉ biết vun quén cho riêng mình quên béng cả con em. Các tôn huynh ngồi thin thít ngậm tăm. Chúng nhâu nhâu bâu lấy đức vua, đứa lôi trước, thằng giật sau đòi thiên tử thấm nhuần ơn  đã mưa  thì phải tưới cho khắp.

Trót phải trét, Chiêu Thống đành run rẩy mở hầu bao lôi kim ấn ra in la in liệt cho mỗi đứa một đạo sắc “quận công”. Chỉ tước “quận công” thôi, chúng không ưng những thứ khác.

Mặt trời đội bể nhô lên. Công việc in ấn mới hoàn tất. Hoàng đế mệt phờ, mồ hôi ướt sũng lưng. Ngài gượng cười.. Hơn một trăm “quận công” nữa đã sản xuất xong.

Cái làng vạn chài Vĩnh Lại bé xíu, nghèo kiết với những ngư phủ chân đất đầu trần, chữ “nhất” cắn đôi tịt mít, qua một đêm bỗng trở thành “quận công” hết thảy ! Tuyết Giang Phu Tử thánh thật !

Hay tin, hai ông tướng họ Bùi họ Đinh cười gằn nhổ toẹt xuống cái lò quận công láo nháo rơm rác này. Các bác công khanh họ trần nhà ta đành phải đơn thương độc mã cứu nước ! Lê Chiêu Thống chọn đúng lúc sơ hở vuột khỏi tay các vị quý tộc cấp tiến gốc vạn chài, trốn thoát.

Nửa tháng sau, trong  một trận tử chiến ác liệt với quân Tây Sơn trên cánh đồng phía tả sông Luộc, tất cả các vị nhất phẩm của triều đình đó đã bị lưỡi gươm dũng mãnh nhà nghề của thượng tướng Vũ Văn Nhậm khuơ ráo không sót một mống.

Câu chuyện lão lái đò kể chỉ có thế. Cái lối kể mới khúc chiết, hoành tráng và thông thái làm sao. Dân vùng này từ già chí trẻ ai cũng yêu lão, trìu mến gọi lão là Nam Thông. Thế gian quả thực không hiếm người tài ẩn danh. Mười tám năm qua rồi, tôi vẫn nhớ như in cặp mắt trong suốt lem lém như mắt mèo hoang, cùng giọng kể chuyện rỉ rả tan ra trong tiếng mái chèo rơi lõm đõm. Không biết con sông Luộc xanh biếc ấy chảy về đâu ?

 

bài ”THÂN PHỤ TÔI” của Thái Doãn Hiểu:

Mời đọc bài ”THÂN PHỤ TÔI” của Thái Doãn Hiểu:

http://www.flipsnack.com/my-flipping-books/details/?flip=f7h8488m

————————-

Theo duong dan cua nguyen khoi, toi lan duoc den NGANG QUA CUOC CHOI cua bac Tran Huy Thuan. Van hay, sach dep, toi me qua ! Anh Thuan oi, anh co the lam cho Thai Doan Hieu mot quyen duoc khong, theo bai bao moi nay:http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2013/07/28/than-phu-toi/. Xin cam on anh nhieu lam !

Trả lời

  • Thật đặc biệt anh Hiểu ơi, tôi là fan hâm mộ những bài viết của anh từ hơn chục năm này, nhưng không có dịp và cả không dám làm quen! Được anh … nhờ, tôi xin làm luôn.
    Cám ơn anh nhiều.

————————-
Từ: Thai Doan Hieu <hieu.thaidoan@gmail.com>
Tới: Thuận Trần Huy <tranthuan535@yahoo.com>
Thưa anh Trần Huy Thuận.
Có lẽ cảm mối tình phụ tử tình thâm của cha con chúng tôi, anh đã bỏ công điện tử hóa sách bài Phụ thân tôi.
Quá đẹp. Trên cả tuyệt vời. Xin được nắm bàn tay anh, cảm ơn anh.
Tôi cũng xin gửi tới bạn bè thân hữu của Thái Doãn Hiểu thành tựu này trong in ấn báo mạng.

THÁI DOÃN HIỂU

414/10B Nguyễn Duy Trinh, P.Bình Trưng Đông Q.2. Tp Hồ Chí Minh

Emaiil: http://hieu.thaidoan@gmail.com

website :http://thieuhai.blogspot.com

Google : thaidoanhieu
Mob: 0915374690