Posts Tagged ‘Lê Xuân Quang’

THỬ PHẢN BIỆN : Sự Phản biện về 4 cái phản biện ’’Gía như…’’ !

THỬ PHẢN BIỆN : Sự Phản biện về 4 cái phản biện ’’Gía như…’’ !

Lê Xuân Quang

Mấy tuần nay trên các mạng xã hội trong nước rộ lên nhiều bài viết xung quanh việc Giáo sư Ngô Bảo Châu trả lời  phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ, mà đoạn’’nặng kí’’ nhất khi anh nói về vai trò của Trí Thức VN trong Phản Biện xã hội !

Phải nói rằng NBC đã điểm đúng huyệt ’’Tức (giận)’’ của một số trí thức– văn nghệ sĩ đang đau đắu nỗi niềm trước hiện tình đất nước… Ngay sau khi nhận giải thuởng cao quý phát minh’’Bổ đề cơ bản’’ – trở về nước, anh đã  mang kiến thức, kinh nghiệm thu nhận được từ những cường quốc Khoa học cơ bản (Mĩ, Pháp, Anh…) , hăng hái bắt tay vào việc xây dựng cho đất nước một cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản hàng đầu – Viện toán cao cấp.

Ở một đất nước như VN ta, khi Kinh tế , Quản lí còn ngổn ngang trăm mối, Khoa hoc – Kĩ thuật còn tản mạn, tách riêng, xa rời giữa thực tế và lí thuyết… và nhất là tổng thu nhập quốc dân còn thấp, đời sống của đa số nhân dân còn nghèo, có nơi còn đói. Đề xuất ý tưởng này với chính phủ  rồi lí giải, thuyết phục được cả một bộ máy tư vấn KHKT – của chính phủ là công việc không dễ . Chắc chắn VTCC kia có ý nghĩa quan trọng như thế nào trưóc sự phát triển toàn diện, bền vững đối với Kinh tế – An ninh – Quốc phòng, mà mũi nhọn là xây dựng – vận hành những cơ sở kĩ thuật cao (…), tham gia chế tạo – xử dụng vũ khí hiện đại nhằm bảo vệ hữu hiệu đất nước. Trong khi mục đích chính này ẩn nấp sau những lời nói công khai của phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Từ hành động đến phát ngôn của GS NBC đã có một số ý kiến’’bàn’’, trong đó cụ thể: Nhà báo Trương Duy Nhất Phản biện với 4 ’’Gía như’’ trong bài viết đăng trên truongduynhat.vn ngày 27.1.2012:

Thứ nhất:

TDN viết – ’’Giá như Ngô Bảo Châu không ngửa tay nhận 650 tỷ từ nguồn ngân sách chính phủ để… làm gì tùy thích mà “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì“. Nếu muốn làm gì thì làm, “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì” thì lập ra cái Viện nghiên cứu toán kia để làm gì? Vả lại, số tiền đó nếu có, với tình hình hiện tại, nên dồn cho việc khác. Tôi không nói là việc nghiên cứu toán cao cấp với “bổ đề” bổ điếc kia không cần tiền, nhưng trong lúc này, hoàn cảnh này, nhiều thứ khác cần tiền hơn, thiết thực, cấp thiết và “bổ” hơn những bài toán “bổ đề” nhiều – hết trích (1).

Chúng ta tự hỏi : Ông TDN đã được đọc luận chứng Kinh tế Kĩ thuật công trình xây dựng VTCC chưa , có kiến thức về Toán học – nghành khoa học cơ bản nền tảng của mọi khoa học, không ? Có thông tin gì xác thực hơn về quyết định xây dựng cơ sở nghiên cứu Toán học kinh phí hơn 30 triệu USD, hay, chỉ nghe (tin lan truyền ) ông phó TT NTN nói rồi nhấn mạnh (in ngiêng) mà ’’hăng mắu – Phản biện’’ -  vậy ? TDN chỉ là nhà báo ngồi ở’’đáy’’ Bờ lốc của mình? Chẳng lẽ ông chỉ có một cái đầu, một bộ óc – lại nghĩ thay cho cả bộ máy tư vấn Khoa học khổng lồ của chính phủ ông Nguyễn Tấn Dũng?

Tổ tiên ta có câu nói răn dậy hậu thế’’Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe’’. Chúng ta nếu chưa biết rõ vấn đề thì… đừng  bàn !

Cái  GIÁ NHƯ tiếp theo – TDN ’’Khuyên’’ GS NBC : Đừng nhận món qùa của chính phủ tặng : Một căn hộ cao cấp trị giá hơn 10 tỉ VNĐ.

Tại sao lại không nhận món qùa cao qúy này ?

Dù muốn hay không, ông Nguyễn Tấn Dũng đương nhiên vẫn là người đứng đầu nhà nước VN, đại diện cho Nhân dân VN, thay mặt nhân dân tặng quà cho người đã được cả thế giới ngưỡng mộ, khen tặng. Lẽ nào, cả dân tộc VN không tự hào đáp lại cử chỉ đó ? NBC chỉ là hạt cát trong biễn cát, anh không thể – (không được) – tách ra khỏi biển cát đó. Tách ra, hạt cát sẽ bị gió bão thổi bay, chìm xuống đáy nước, bị rác rưởi trùm lấp…

NBC thực ra rơi vào hoàn cảnh ’’Thân bất vô kỉ’’ !

Anh đã hành xử với tư thế của người trí thức nhìn xa trông rộng: Vì nghiệp lớn, không chấp nhặt điều nhỏ, như người Trung hoa có câu nói rất hay’’Tiểu bất nhẫn – Tất loạn đại mưu’’. NBC hành động thông minh, khôn ngoan làm chúng ta nhớ lại câu thơ của Chế Lan Viên trong bài thơ Bánh Vẽ :

’’ Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ

Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

Cầm lên nhấm nháp

Chả là nếu anh từ chối

Chúng sẽ bảo anh phá rối

Đêm vui!

Bảo anh không còn có khả năng nhai

Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…

Thế thì còn đâu dịp nhai thứ thiệt ?…’’

Còn cái GIÁ NHƯ thứ 3 :’’Chúa đảo’’ Đào Hồng Tuyển’’ rút ruột’’ tặng Viện Toán Cao Cấp một biệt thự ở khu du lịch Tuần Châu (nghe nói trị gía mấy triệu USD) – lại càng cần phải nhận. Dù chúa đảo là ai, dù với mục đích gì… đây là món qùa dành cho tập thể VTCC, GS NBC không thể vì cái sĩ diện cá nhân mình từ chối món qùa lớn phục vụ cho tập thể do anh lãnh đạo.

Người xưa nói : Nước qúa trong sẽ không có cá. Nước qúa trong chỉ có ở trong phòng thí nghiệm (nước cất) chứ trong đời sống không có. Nghĩa đen của quan điểm này, là : Trong cuộc sống thường nhật (ao hồ, biển cả…) – không thể có ’’nước qúa trong’’. Muốn sống cùng dòng nước không có sinh vật (tạp chất ) – chỉ có …Chết !

Nhà thơ Khuất Nguyên – người sống thời Sở Hoài Vương nước Trung Hoa cổ đại, thời Đông chu liệt quốc cách nay hơn 2000 năm – đã chọn cách hành xử này: Cuộc đời’’Đục’’ – mình ta’’Trong’’, để giữ trọn danh tiết, ông ta đã ôm tảng đá, nhẩy xuống sông Mịch La kết liễu đời mình !(1) Thời đại của Ngô Bảo Châu khác xa thời đại Khuất Nguyên !

Anh còn cầp phải sống, sống kiên cường, sống vui vẻ hết mình, để phục vụ dân tộc đã cho anh làm người Việt, giành vinh quang cao qúy… Nhận món qùa của chính phủ và nhân dân , khiến anh phải có trách nhiệm với cuộc đời này. Đây là hai tín vật để GS Ngô Bảo Châu luôn nhớ mình là ai và phải làm gì để khỏi phụ lòng Nhân dân Việt Nam. GS NBC không nhận qùa mới đáng tiếc, đáng ngại, đáng suy nghĩ !…

Cái GIÁ NHƯ thứ 4, sau cùng – cần phải nói :

Trương Duy Nhất sau cùng mới bật ra :’’ Giá như Ngô Bảo Châu không trả lời Tuổi Trẻ bằng một câu…(2) phũ phàng đến thế. Không phải báo chí người ta không nhìn ra, không biết viết. Nhưng trong tình thế hiện tại (tôi không tin là Ngô Bảo Châu không hiểu), khi báo chí đã cài một câu hỏi như vậy là họ muốn mượn nhờ câu trả lời của anh, chỉ có anh, với tên tuổi và vị thế của anh nói ra mới có thể đứng được trên mặt báo. Điều đó là cực kỳ lợi hại, hữu ích. Cái tên Ngô Bảo Châu cần cho những thời khắc đó. Tôi không tin là Ngô Bảo Châu lại không hiểu, không nhìn ra vị thế của trí thức và vai trò phản biện, đặc biệt trong bối cảnh này.

Giá như…(hết trích (3) .

Câu trả lời báo Tuổi Trẻ, có thể khai triển như sau :

- Định nghĩa về Trí Thức. Không nên coi Trí thức phải phản biện. Mọi người đều có thể phản biện (…), không phản biện , xã hội coi như’’chết lâm sàng’’.

- Khi PB cần tỉnh táo- Không phải người có học hàm, học vị – trí thúc – ’’Phản biện’’ đều đúng… Cái PB đưa ra cần phải vững chắc, thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn minh, có bản lĩnh (nlđtmcbl) – sẽ biết lắng nghe…Nhà Trí thức gây sức ép lên người lãnh đạo, cũng như lãnh đạo – nhà Phản Biện không độc quyền chân lí !

Đây mới là thông điệp quan trọng mà GS Ngô Bảo Châu đã gửi tới cả hai phía ‚’Người lãnh đạo thông minh có bản lĩnh’’ và’’nhà Trí thức – những người Phản biện’’ !

Vấn đề mấu chốt ở đây là : Khi lập luận của phản biện đã vững chắc, có sức thuyết phục mà’’Nlđtmcbl’’ vẫn – vì lí do này hay khác – không tiếp thu… thì nhà Trí Thức chân chính – phải làm gì ? Bó tay, im lặng, buông xuôi, hay tiếp tục phản biện, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân đều lên tiếng, cùng Phản Biện… đến chừng nào đó – nhà lãnh đạo’’Không thông minh’’ – (hay giả vờ không thông minh), không có bản lĩnh (vì bị thế lực nào đó ngăn cản) – quyết đoán, sẽ không thể ù lì được nữa mà phải lắng nghe , biện giải cho hành động của họ hoặc thực hiện theo phản biện của nhũng người PB !

Tóm lại : Ý kiến của NBC hoàn toàn khúc triết, mạch lạc, mang tầm vóc của một chính khách – trí thức đẳng cấp cao. Hành xử – phát biểu của GS NBC làm tôi nhớ đến câu nói của một vĩ nhân (Hình như của nhà bác học M.Lô mô lô xốp), đại ý được diễn tả bằng một công thức Toán học mà bất cứ cậu học sinh tiểu học nào cũng hiểu – biết:

Tài năng thực của con người ví như TỬ SỐ

Tài năng mà anh ta tưởng tượng ra là MẪU SỐ

MẪU SỐ càng lớn – PHÂN SỐ càng nhỏ !

Câu nói của nhà bác học ngắn gọn nhưng sâu sắc , thuyết phục hàng trăm triệu người. Ngay cả những thư viện sách,  chưa chắc đã thuyết phục, bằng !

Cũng từ bài trả lời PV báo Tuổi trẻ, tôi nhớ lại : Có lần (mới gần đây thôi), GS NBC còn nói một câu nổi tiếng khác , đại ý:’’ Đi theo Lề (phải, trái) là cách đi của bầy Cừu ! (Chứ không phải cách đi của con người) !

Đọc, nghe lời Vĩ nhân nói, viết cần nghiêm túc, suy nghĩ bằng tư duy sâu lắng. Một người thông minh khác, nói – tôi đã quên tên, chỉ nhớ nội dung lời khuyên : Đọc, hiểu tác giả là tự nâng mình lên ngang tầm với tác gỉa !

Berlin 1.2.2012

LXQ

(1) Theo Wikipedia : Khuất Nguyên (chữ Hán: ; bính âm: qū yúan), tên Bình, biệt hiệu Linh Quân (340 TCN – 278 TCN) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.

Ngoài tập Ly Tao là tập thơ bất hủ của ông để lại, ông còn có nhiều sáng tác thơ khác như Sở từ, Thiên Vấn (Hỏi trời).v.v.

Đến cuối đời ông bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú “Hoài Sa” rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử.

Ông cũng chính là nhân vật trong sự tích tết Đoan Ngọ (Đoan Dương). Theo truyền thuyết này, để tưởng nhớ về con người và cái chết bi ai của ông, hàng năm người ta tổ chức vào ngày mồng năm tháng năm là ngày tết Đoan Dương ở Trung Quốc và một số nước khác ở Châu Á

(2) – Giáo sư Ngô Bảo Châu:
Mời đọc nguyên văn bài trả lời báo Tuổi Trẻ “BẠN TRẺ VẪN ĐẦY NIỀM TIN TƯƠNG LAI

——————-

(3) - Mời đọc nguyên văn bài của TDN GIÁ NHƯ NGÔ BẢO CHÂU…

MẸ VÀ… CON – truyện ngắn Lê Xuân Quang

MẸ VÀ… CON – I

Rút trong tập truyện ngắn “Những Mảnh đời phiêu bạt” tập 2 ( Sẽ xuất bản vào cuốn năm)

Truyện ngắn – Lê Xuân Quang

 

- Nào, nâng cốc !

- Nâng cốc…

Theo nhịp điệu dăm phút một, gịong lè nhè của Ty lại cất lên rồi tiếp nối là tiếng ực… cứ sau mỗi tiếng nâng côc… ực… ực…  giọng lai thêm lè nhè hơn, thần sắc tái dần, tay quờ quạng, chậm chạp cầm chai rượu rót vào cốc. Say đến nỗi động tác không chỉnh, rót chệch đổ lênh láng ra bàn.

Người đôi diện giằng chai rượu, gắt lên : Thôi đi ! Say xỉn rồi. Đứng dậy, về – vừa nói Chinh vừa dìu bạn kéo đi. Ty phản ừng chống cự, vùng vằng… nhưng thay vì gạt bạn ra, Ty lại loạng choạng ngã chúi xuống sàn nhà. Chinh lắc đầu cúi xuống xốc nách bạn đứng lên, dìu ra xe…

Về đến nhà đã quá nửa đêm. Bé Tiến cùng chị trông trẻ đã say giấc từ lâu. Sau khi đưa được ”con sâu rượu” ra buồng tắm, cởi áo khoác, quần ngoài, lau vết bẩn do nôn oẹ còn dính trên mép, trên tay, dìu vào giường, đắp chăn… chỉ vài phút sau Ty đã ngoẹo đầu, ngáy như kéo bễ lò rèn.

Giúp bạn xong Chinh mệt mỏi gieo mình xuống đi văng. Dù uống ít nhưng rượu cũng đã ngấm khiến đầu thấy choáng váng. Tuy vậy anh vẫn còn cố gượng, hướng nhìn Ty đoạn thở dài. Một nỗi buồn mênh mông, da diết ập đến. ”Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cành”… mình không vợ con, buồn đã đành, Ty có gia đình đề huề với hai vợ, hai con… thế mà còn khổ đến nỗi phải vùi mình trong rượu cho quên hết sự đời… từ nỗi buồn, Chính nhờ về qúa khứ, những ngày trước khi đến nước Đức…

Chính, Ty tốt nghiệp phổ thông, thi trượt đại học nên cùng xin vào học trường Công nhân kỹ thuật Cơ – Điện của tỉnh. Sắp tốt nghiệp, một ngày chủ nhật, hai người rủ nhau ra quán cà phê. Trong khi vui chuyện, chủ qúan quảng cáo rằng mình có ”đường dây” đưa người đi du lịch nước ngoài. Đang kỳ nghỉ hè, cả hai đều có điều kiện, lại háo hức muốn biết châu Âu. Mắu giang hồ bốc lên, hai chàng bàn nhau về thu xếp: ”ngao du một chuyến” ! Gia đình cả hai thuộc loại giầu có, mới phât lên trong cuộc đổi mới, mở cửa. Các ông bố bà mẹ sau khi nghe con trình bầy liền gạt phắt, đưa mọi lý do, biện bạch từ chối vì thời đó, mốt đi du lịch nước ngoài còn mới mẻ. Nhưng cuối cùng thấy con khao khát, chiều con các vị đành gật đầu.

Chính độc thân chẳng có vấn đề gì, Ty có vợ một con nên ngoài ý kiến của bố mẹ ra, còn phải thuyết phục vợ. Cô Giang vốn cũng con nhà nòi trên thương trường. Được bố mẹ đẻ quan tâm giúp đỡ, khuyến khích, Giang buôn bán bất động sản, phất lên như diều gặp gío. Khi chồng ngỏ ý đi du lịch, cô dẫy nẩy vì đã nghe nói nhiều về các chuyến ”đi hoang” của nhiều ông chồng, bà vợ, tuy chỉ từ Hà Nội vào miền Nam, mà sau đó gia đình lục đục, thậm chí tan nát. Giang từ chối phắt. Nhưng chồng vẫn nài nỉ, thuyết phục – lại gặp dịp cô đang cùng một bạn hàng ”Đối tác” hùn nhau mua một mảnh đất xây dựng nhà ở, kinh doanh. Tuy không muốn chồng đi, nhưng nghĩ đến chuyện hàng ngày cặp kè với người bạn hàng kia… sợ chồng chướng mắt, hiểu sai… Sau vài ngày đắn đo cân nhắc, trở lại bình tĩnh tự tin ở mình, cô tặc lưỡi vẻ thách thức : Được, không tin rằng ”ông xã” có thể tìm được người nào hơn mình. Cứ cho anh ấy thoải mái… mà mình cũng đỡ vướng chân. Thử vất cả hai vào môi trường đầy thử thách để kiểm chứng, xem sao…

4 tuần sau Chính, Ty cầm Hộ chiếu, vé, lên máy bay đi thăm Liên Xô đang đầy biến động.

Mùa hè năm 1991 , Liên Xô đầy cam go, cuộc sống của dân Ngavô cùng khốn khó… nghe nhiều thông tin từ Đức dội về, hai chàng quyết định đến nước Đức. Dạo đó việc tìm cách ở lại Đức chưa qúa khó khăn. Dịp may đến… cả hai đều được chính quyền Đức cho tạm dung. Một chương mới trong cuộc đời của họ mở ra…

Chinh vốn ngại vương vấn gia đình nên không nghĩ tới chuyện cặp kè. Trái lại, dù đã có vợ, một con ở bên nhà, Ty vẫn lao ngay vào cuộc tình với một cô gái cùng từ Mockba đi. Cô gái khá xinh đẹp khiến Ty mê mẩn tâm thần, luôn tấm tắc ”Nghiêng nước nghiêng thành”.

Chinh nhắc nhở… Ty gạt đi : Ôi dào ! Kệ đời. Tớ biết chứ. Đây chỉ là thay đổi ”khẩu vị” thôi. Làm sao ”phở, mì” ở ngoài, ngon bằng ”tiệc” của vợ tớ sắp sẵn trong nhà. Sẽ không có chuyện gì xẩy ra đâu – Ty nghẫm nghĩ giây lát, tiếp – cậu chưa sống trong hoàn cảnh đàn ông xa vợ, đàn bà xa chồng nên vô tư. Còn tớ chịu sao được. Vả lại… biết đâu… bây giờ nàng của tớ cũng đang cặp kè với ”Đối tác”. Ai bảo cô ấy để tớ ”xổng chuồng” !

Chính đành lắc đầu, im lặng trước lí lẽ của bạn.

Giữa năm 1992 – đúng chín tháng sau cái lần gặp nhau đầu tiên của Ty với nàng ’’Nghiêng nước nghiêng thành’’ – cô Nhài trở dạ. Ty đưa vôi tới bệnh viện. Nhưng ở đây hơn 1 ngày – 1 ngày kinh hoàng của người mẹ trẻ sinh lần đầu – Thằng bé ”cao vía” cứ đạp lung tung mà không chịu xuất đầu lộ diện khiến mẹ nó gào rú… kể cả chửi… bố lẫn… chửi con !

Mặc, nó vẫn ỳ… không ra.

Bà y tá vốn có kinh nghiệm đỡ đẻ lâu năm – tuy không hiểu tiếng Việt, nhưng nhìn thái độ, nghe âm lượng của giọng nói… bà hiểu ra, nghiêm mặt, quay sang an ủi người đàn ông đứng cạnh người đàn bà lúc trở dạ – mà theo cách nghĩ của người Đức – đó là bố đứa bé …Ty cám ơn bà, càng vui hơn vì lần đầu tiên trong đời anh được chứng kiến giây phút quan trọng nhất : Con anh sắp chào đời (đứa con gái do vợ sinh, anh không được chứng kiến).

Thứ nữa, bây giờ thì anh mới thực sự biết ”thế nào là đau đẻ”… Cuối cùng – tròn ngày rưỡi – cu Tiến cũng ”khó nhọc”… ra, bước vào cuộc đời mà rồi đây nó được chứng kiến những nghịch cảnh – nơi cách xa quê hương cha mẹ nó gần nửa vòng trái đất. Bé trai bụ bẫm, khoẻ mạnh khóc oang oang. Mẹ nó mệt ngất đị. 3 hôm sau Ty đưa hai mẹ con từ bệnh viện về nhà. Anh vui còn hơn vớ được kho vàng.

Dạo đó nền kinh tế Đức còn hưng thịnh, tìm việc làm không khó. Ty đi làm tự nuôi vợ con, không ăn nhờ vào trợ cấp xã hội của chính quyền Đức. Anh ý thức được trách nhiệm của mình trước cái gia đình nhỏ bé nên chăm chỉ làm việc nuôi con, thương yêu vợ. Thương đến độ vợ bảo gì cũng nghe theo. Việc gì trong nhà cũng giành lấy làm. Bạn bè – nhất là các chị, các cô – đến phát ”Ghen”… hộ, khi biết Ty cả ngày đầu tắt mặt tối ở trong bếp nấu của nhà hàng ăn châu Á, khi về nhà lại lao vào nấu ăn, giặt giũ phục vụ vợ. Trong khi cô vợ lẽ ra có thể đỡ đần chồng được các việc đó. Thảng hoặc có cô bạn nào nói, chê quá mạnh,  anh lại chép miệng : Ôi dào ! Mình làm rấn đi, để cô ấy có thời gian chăm con. Cô ấy mà làm thì… xẩm xờ…

Một chị hàng xóm thương tình, cảnh báo : Cậu đừng tưởng thế là hay đâu. Coi chừng… Khéo lại nuôi ong tay áo đó !

Mặc – Chinh bỏ ngoài tai.

 

Từ hôm sinh con, Nhài như đổi hẳn tính nết. Không hiểu sao khi nhìn thằng bé, Nhài không thấy xúc động – hay nói đúng hơn – thơ ơ thậm chí hơi ghen ghét là đằng khác ! Có lẽ cơn đau đẻ một ngày rưỡi kia đã làm Nhài phát sinh tâm lý này. Thằng bé lớn nhanh . Đặc biệt tính hắu đói. Mỗi lần đói cu cậu đòi ăn… ăn ngốn ngâu. Nhất là khi bú sữa. Nhài đọc được ở đâu đo – lúc còn con gái – đoạn văn nói về người đàn bà sinh nở… hình như người ta bảo rằng sữa mẹ tốt nhất cho việc nuôi dưỡng con. Nhưng cho con bú sữa, sau này mẹ sẽ xấu đi, rằng đứa con sẽ hút hết ’’vẻ đẹp’’ của người mẹ…

Vả lại ở Đức, người ta sản xuất thưc ăn cho trẻ em từ lúc mới sinh đến lớn. Nhài thực hiện ngay ý định, mua thức ăn sẵn về thay khẩu vị cho con. Khốn nỗi cô lại tốt sữa. Không cho con bú, sữa dồn về, không tiêu được khiến cơ thể đau, cực kỳ khó chịu. Thôi thì đẹp đâu chưa biết, đau muốn chết, thế là lại phải cho cu Tiến tiếp tục bú như cũ…

Khi gần một tuổi thằng bé mọc răng.

Mỗi lần ngứa lợi nó nghiến núm vú… Nhài kêu giời, không chịu được phát mạnh vào mông khiến đứa bé khóc thét. Lại nữa, hình như từ khi thằng bé ra đời, điều không may mắn, khó chịu cứ xuất hiện, trùng lặp liên tục đến với Nhài. Cô bất gíac liên tưởng và khẳng định nguyên nhân do… con trai. Và cứ mỗi lần như thế, hình như tình thương con bị xói mòn dần đi chút ít…

Trái lại, Ty thương con càng nhiều hơn.

Lúc ở bên nhà, chẳng hiểu sao tình cảm của Ty đối với đứa con gái do Giang sinh, chỉ ở mức độ bình thường. Có lẽ bao bọc xung quanh cái gia đình nhỏ bé của vợ chồng Ty, có ông bà hai bên nội ngoại, có một gia đình lớn và ở trong lòng quê hương nên Ty không cảm thấy gì đặc biệt. Thế nhưng ở nơi xứ lạ quê người, chỉ có Ty và cô bạn gái với dăm ba người bạn đồng hương, tự nhiên cảm gíac thương con của Ty sâu đậm, dạt dào đến mãnh liệt. Rồi không biết từ lúc nào, cảm gíac đó đẩy lên thành nhu cầu đời sống của Ty. Ngay cả trong lúc làm việc, anh cũng luôn lo lắng, suy nghĩ về con trai. Cuối ngày, khi trút bỏ bộ quần áo lao đông, về nhà, chẳng kịp tắm rửa Ty lao vội vào phòng nhìn con, nói với thằng bé lời âu yếm rồi làm gì mới làm.

Khi bé Tiến tròn 3 tuổi, đích thân Ty đến xin cho con vào nhà trẻ.

Cu Tiến hay ăn chóng lớn. Đặc biệt hiếu động đến nghịch ngợm. Một lần nhìn thấy trên hộc tủ có chiếc đồng hồ cấu tạo hình con ngựa. Tiến muốn lấy xem mà hộc tủ lại cao. Cậu bé tự chồng ghế rồi trèo lên. Ghế đổ, ngã, trán sưng bươu, bắp chân bầm tím. Hôm sau dến nhà trẻ, cô giáo nhìn thấy hỏi, Tiến bập bẹ trả lời… nhưng vốn tiếng Đức của đưa trẻ lên 4 kết hợp giữa nói và làm động tác ra hiệu khiến cô bảo mẫu hiểu chệch đi… Cô giáo báo cáo với Sếp. Bà Gíam đốc vội gọi điện cho vợ chồng Nhài, yêu cầu đến ngay văn phòng nhà trường.

Khi hai vợ chồng Ty tới nơi, đã thấy 3 người – một nữ cảnh sát, bà Giám đốc và cô bảo mẫu – đang sốt ruột ngồi chờ. Sau vài phút ”ngoại giao”, họ xúm vào hỏi, ghi biên bản… Ty phải đại diện trả lời những câu hỏi đầy soi mói, thậm chí rất khó nghe… Cuối cùng bà Giám đốc cao gịong : Chúng tôi tạm tin lời giải thích của ông bà, rằng – bà và chồng không hành hạ, ngược đãi đứa trẻ. Thế nhưng kết qủa còn ghi lại trên thân thể của cháu  và những lời nói chưa sõi của bé, cộng với những vết thương rất nặng, chứng tỏ một điều, hai ông bà không có trách nhiệm trong việc nuôi dậy con. Vậy trước mặt người đại diện cho cơ quan cảnh sát, ông bà hãy trả lời : Các vị có còn khả năng chăm sóc  bé Tiến không ? Nếu không, chúng tôi sẽ đề nghị chuyển chắu tới trại trẻ mồ côi. Ở đó người ta sẽ chăm sóc bé tôt hơn, ít nhất là không để xảy ra những chuyện tương tư.

Ty, Nhài hỏang hốt nhìn nhau rồi đồng thanh xin lỗi. Ty thành thực nhận lỗi, hứa sẽ không bao giờ có chuyện như thế tiếp diễn. Hai người ký vào bản cam kết rồi đưa Tiến ra về. Trên đường, Nhài im lặng, mặt đăm chiêu. Chút tình thương cuối cùng của cô đối với đứa con trai hình như đang mất dần – ”lại một xui xẻo ngoài sức tưởng tượng nữa đến” – Nhài lẩm bẩm. Trong khi đó cu Tiến vẫn bi bô, thỏ thẻ, bập bẹ hỏi chuyện mẹ rồi lại quay sang nói  với bố…

Ty im lặng làm vẻ đang tập trung lái xe, nhưng thực ra anh đang suy nghĩ lao lung những lời ”xóc óc” của Sếp nhà trẻ. Về đến nhà vừa ngồi xuống, thở… Nhài phá tan bầu không khí căng thẳng bằng một giọng trầm trầm : Hay là ta thuê người trông nom bé Tiến ? Bây giờ con đã lớn, em cũng muốn đi làm .

- Thuê người – Ty đai lại – em tưởng đơn giản thế à. Chúng mình đã có lỗi, bị lưu trữ trong hồ sơ… chỉ cần một lần nữa để xẩy ra chuyện tương tự là chúng ta mất con. Lúc ấy họ không thém hỏi ý kiến nữa đâu. Em quên rồi sao ? Mà, thằng con mình lại nghịch như quỷ sứ. Nếu không phải là bố mẹ, ai mà gíam sát nó suốt ngày – Ty nhướng mắt nhìn vợ .

- Hàng tháng trả công họ thật hậu hĩnh là giải quyết được vấn đề…

- Thuê được người có thể chăm sóc chu đáo cho con như em muốn đâu phải chuyện dễ. Vả lại trả công cho họ mội tháng bao nhiêu. Chả lẽ 2/3 tháng lương của anh ? Nhưng cái chính, con mới 4 tuổi, cần có bàn tay chăm sốc của bố mẹ.

- Thế thì anh nghỉ làm ở nhà trông con ?

- Hả, em nói thế mà nghe được à ?

Đến nước này thì gay go. Nhiều lần giằng co nhau trong việc chăm con vẫn không tìm được lối thoát. Nhài kiên quyết : Em không thể tiếp tục chịu đựng được. Em phải đi làm!

- Tại sao ? Mẹ nghỉ ở nhà trông con, bố đi làm mang tiền về… đó là thiên kinh địa nghĩa mà – Ty ngạc nhiên, trố mắt nhìn Nhài. Lần đầu tiên anh ”dám”  phản ứng, nhìn vợ bằng cặp mắt như vậy… Trong khi đó cô vợ vẫn thản nhiên : Em sinh cho anh đứa con như thế là đủ. Còn nuôi dây nó anh hãy tiếp tục trách nhiệm làm bố. Đây là ở Đức. Không thể đổ hết lên đầu người đàn bà những cực nhọc, khó khăn để các anh ”tung tẩy”…

- Thế… thế… – Ty chỉ thốt lên được đến đây rồi im lặng. Nhài ngẩng nhìn thẳng vào mắt Ty, tia nhìn long sòng xọc, tiếp theo bắn ra những tiếng như tiếng đạn nổ : Thế… thế cái gì ? Anh hãy thử làm vai trò của phụ nữ – người mẹ – ít lâu xem sao. Em đi làm cũng có thể mang về số lương như anh. Em muốn chứng minh rằng, anh làm được thì em cũng không thua kém. Ngược lại anh thử chứng minh xem, anh có làm được điều mà em đã làm không ?

Đến đây thì Ty chỉ còn biết im lặng cho yên cửa yên nhà. Đất không chịu Trời thì Trời đành chịu thua vậy. Ngay hôm sau anh đến thông báo với chủ để ông ta tìm người thay . Hai tuần nữa theo quy ước, Ty nghỉ làm, ở nhà trông con. Cái nợ phong trần phải trả cho đời chỉ mới bắt đầu…

Hàng ngày, sáng đưa con đến nhà trẻ rồi về nấu ăn, giặt giũ, hút bụi, quét dọn. Chiều đến ra đón con về, tiếp tục công việc vặt vãnh hết buổi chiều, lại chuẩn bị rồi nấu ăn, rửa ráy tắm táp cho con, 8 giờ tối đưa bé vào giường ngủ. Xong ra hâm nóng thức ăn, dọn cơm.  8 giờ 30 Nhài về… vợ chồng ăn cơm, thu dọn… Nhài tắm rửa… khi xong mọi việc trở vào thì cô đã lên giường gà gật… có vài lần xà vào… Nhài cắu kỉnh, kêu rằng rất mệt. Ty thương vợ (lại thương), không nỡ đắnh thức… đành cắp chăn gối ra Đi văng ngủ và sáng hôm sau chu kỳ, nhịp điệu của ngày hôm trước lặp lại. Ty cảm thấy khoảng cách của hai vợ chồng ngày một dần xa. Đặc biệt là chuyện chăn gối. Có lần khi Ty âu yếm, Nhài ngồi phắt dậy xẵng giọng : Để yên cho em nghỉ. Anh ở nhà ”ăn no ngủ kỹ, chổng tỹ lên giời”, em làm từ sáng đến tối kiếm tiền về nuôi bố con anh, anh có biết không ? Để cho em yên… có sức ngày mai đi làm chứ !

Mọi chuyện Ty cho qua hết, nhưng đến nước này thì không còn bình tĩnh được nữa, anh nổi đóa : Sao bảo để tôi đi làm cô không nghe, đòi tôi nghỉ ”thử làm vai trò bà mẹ”… bây giờ lại lên giọng. Lấy vợ thì chuyện này tất phải có. Nếu không lấy làm gì? Hả… hả…

Nhài không nói gì nằm vật ra, quay mặt vào trong tường. Ty càng tức uất, lại cắp chăn gối ra Đi văng. Cơn giận – cuộc ‘’chiến tranh’’kéo dài mấy ngày. Ty vẫn theo rõi, chờ đợi sự làm lành của Nhài như mọi khi. Lần này khác hẳn: Nhài lờ đi như không có chuyện gì xẩy ra.

Một hôm, trong đầu tự nhiên nẩy ra ý nghĩ : ”Thử đến xem cô này làm việc ra sao”. Ý nghĩ vu vơ chợt thoáng qua… Ty bắt tay thực hiện ngay, sau khi cho con tới nhà trẻ, Ty chuẩn bị, ăn mặc, chải chuốt đi tới nơi Nhài làm việc. Cửa hàng bán quần áo Mode của ông chủ người Thổ (Turkei) – nằm ở khu vực trung tâm thành phố. Từ đằng xa nhìn thấy khách ra vào nhộn nhịp. Ngần ngừ một chút, nửa định vào, nửa lại không muốn… cuối cùng Ty mạnh dạn quyết định… vào.

Quầy bán có tới 3 người phục vụ. Nhài đứng bán thu tiền. Xế bàn Kasse (thủ qũy) có người đàn ông nhỏ thó, thọt chân, râu ria xồm xoàn, đen kịt – Đang tươi cười mời chào khách, thấy Ty bước tới, Nhài thay đổi nét mặt hỏi :  Anh đến đây làm gì?

- Đến xem em bán hàng.

Thấy thái độ của Nhài, người đàn ông kia tiến tới, hỏi : Ông muốn mua hàng gì ?

- Không, tôi là chồng cô ấy, đến xem vợ tôi bán hàng thôi. Ông là chủ của cô ấy ư ?

- Anh ấy là chồng của cô ? – người kia quay sang hỏi Nhài, vẻ ngạc nhiên.

- Không, anh ta chỉ là bạn trai của tôi – Nhài trả lời ông chủ, mặt tỉnh bơ.

- Vậy cô giao quầy cho cô kia – ”ông gìa thọt” chỉ cô gái Đức có mái tóc cắt ngắn như tóc đàn ông, dục – rôi tiếp anh ta.

- Không cần – Nhàn ngắt lời chủ, đoạn quay sang Ty, nghiêm sắc mặt : Anh về đi, đừng đến quấy rầy em. Rồi coi như không có Ty, cô quay sang tươi cười tiếp khách mua, như chẳng hề nhìn thấy Ty đang trợn mắt, đứng như trời trồng.

Ty lủi thủi quay gót rời khỏi cửa hàng với tâm trạng chán chường hoang mang…

xxx

Như thường lê, đưa con đi nhà trẻ về. Ra ra, vào  vào một thoáng… đã 10 giờ sáng. Ty dọn bát đĩa rếch của 3 hôm ăn xong chưa rửa – bỏ vào máy rửa bát, bật công tắc điện. Xong, quay ra lau bếp – vừa làm vừa suy nghĩ về quan hệ của mình với Nhài trong thời gian qua…

Bỗng chuông cửa reo vang.

Một thoáng bâng khuâng, tự hỏi : Ai tới vào giờ này nhỉ ? đoạn chậm chạp ra mở cửa. Khi cánh cửa tư từ hé mở…. Giang hiện ra. Ty giật mình – Phản xạ tự nhiên – Ty thốt lên đầy kinh ngạc : Ô… ô… Sao em lại đến được đây ?

- Anh lạ lắm phải không ? Nhất định rồi…. Em có thể vào nhà được chứ ?

- Anh quên. Vào đi. Em đến Đức bao giờ, con có khoẻ không ? Hai bên nội ngoại thế nào… Ty bồn chồn hỏi, che đi sự lúng túng hồi hộp.

- Con khoẻ, học giỏi. Ở nhà vẫn bình thường. Em đi công cán trong đoàn Nghiên cứu thị trường Đông Âu… tranh thủ ghé qua thăm anh. Giang vừa nói vừa đưa mắt nhìn từ bên này sang bên kia, như nghiên cứu cách trang trí bầy biện trong phòng khách, đầu hơi gật gật…

Khi Ty đưa cho Giang ly nước cam vắt (cô rất thích), Giang đón, nhìn thẳng vào mắt Ty, cặp mắt long lanh xoi mói, tiếp : Vợ hai với thằng bé đâu ?  Khoé miệng Giang như mỉm cười đoạn ghé môi vào cốc nước cam nhấp ngụm nhỏ.

Mồm Ty đắng ngắt. Từ hơn bốn năm nay, Ty không hở môi cho Giang biết quan hệ của mình với Nhài, nhất là đẵ có cu Tiến. ”Sao cô ta lại biết nhỉ” – Một câu hỏi thoàng qua. Nhưng Ty nhanh chóng lấy lại thế chủ động, thản nhiên : Cô ấy đi làm. Thằng nhỏ đi nhà trẻ.

- Làm trai rửa bát quyét nha. Vợ gọi thì dạ: Bẩm bà con đây. Anh rất giống hoàn cảnh câu ca dao trong truyện cổ tích Việt Nam. Em nhận xét thế không oan chứ ?

- Cũng không hoàn toàn… Các cụ ta đã dậy ”ở hèn gặp lành”(1) mà. Nhưng khoan nói đến chuyện này. Anh muốn biết về cái Đoàn nghiên cứu thị trường thương mại… và thành viên Ngân Giang trước đã.

- Em cũng muốn biết về cô người đẹp Khuynh quốc khuynh thành làm thế nào để biến chồng em – một người cực đoan trong gia đình – thành kẻ rửa bát quyét nhà, thuộc làu một cách sai lệnh câu ca dao kia. Nhưng thôi, anh muốn, em cho anh biết trước vậy : Anh đi, ít lâu sau em cũng thấy háo hức muốn đi theo để nhìn thế giới bên ngoài. Em chấm dứt việc buôn bán, đi học… ra trường, xin vào làm việc ở UNIMEX của Tỉnh và đến giờ gặp dịp, được cơ quan cử đi trong đoàn Khảo sát thị trường may gia công. Mục đich chính là muốn đến bắt tận tay, day tận trán tình địch đã cướp chồng em. Và bây giờ hiện diện trước mắt anh. Giang nói bình thường, chẳng tỏ ra vẻ ghen tuông. Thái độ đàng hoàng đó càng làm Ty sởn gai ốc.

Khi cảm thấy sức thuyết phục của câu trả lời đã ngấm tận xương tủy người nghe, Giang mới tiếp : Lan man chút ít cho vui thôi. Em hơi đâu mà đánh ghen. Ngược lại còn cảm thấy hãnh diện vì chồng mình chinh phục được người đẹp. Bây giờ em mới đi vào việc chính. Những chuyện anh làm ở bên này em đã biết hết. Là lỗi tại em… đã chủ quan… để anh đi hoang mà không ngăn cản. Em coi đó là bài học đắt giá. Cho qua. Tuy nhiên có điều kiện : Hoặc là anh bỏ lại tất cả, theo em về. Làm lại từ đầu. Hoặc là ở lại với vợ đẹp con khôn – hãy chọn một đi. Giang nhìn chăm chắm vào mắt Ty chờ đọi câu trả lời.

Ty lúng túng…

Giang bồi tiếp : Tài sản của bọn mình gồm 1 dinh cơ và 3 mảnh vườn trồng Vải Thiều, Nhãn Tiến đã ra quả, đang khai thác. Trước khi em đi, có người đánh tiếng sẽ mua 3 mảnh vườn mỗi mảnh 1 héc ta với gía 3 tỷ đồng một mảnh. Nếu anh về chúng mình sẽ bán đi một thửa, lấy vốn khuyếch trương… nhất định cuộc sống sẽ hơn hẳn  cảnh rửa bát quyét nhà này. Ngừng một chút, ngẫm nghĩ… Giang ngẩng nhìn lên trần nhà, tiếp – Cô người đẹp kia sinh cho anh một bé trai, em đâu có kém cạnh, ấy là chưa kể anh đẵ có đứa con gái xinh đẹp, thông minh, đang tham gia ở lớp đào tạo học sinh giỏi của tỉnh. Nói đến đây Giang ngừng lại nhìn thẳng vào mắt Ty vẻ chờ đợi. Ty vẫn im lặng, Giang tiếp: Còn, nếu anh không về, em sẽ bán cả đất, gom tiền đưa sang, chúng mình cùng hợp lực kinh doanh. Tất nhiên anh phải thực hiện điều thứ nhất : Bỏ, chia tay người đẹp… chỉ có mình em va anh sống chung thôi.Giọng nói thiết tha, rủ rỉ… các thông tin mới mẻ, sôi động, hấp dẫn khiến sức thuyết tăng lên. Một phút ngây ngất… nhưng khi nghĩ đến con trai, Ty lại giật mình trở về với thực tế cay nghiệt… Anh nhìn vào mắt Giang… Hai tia nhìn … như hai luồng điện cao thế, hình như chúng đang tranh giành, áp đảo nhau… Ty khó nhọc, chậm chạp : Cám ơn sự tính toán chu đáo của em. Mong em tha thứ cho anh. Nhưng – Ty ngập ngừng… ngập ngừng khó tiếp lời. Giang im lặng. Trên khuôn măt cô không hề thay đổi, cứ như đang chăm chú nghe. Mãi sau rồi Ty cũng nói lên lời – Lúc này mà anh trở về thì chưa được. Anh có nỗi khổ riêng…

- Nỗi khổ riêng gì thế ? Nó có thể che lấn cả tình vợ chồng, cha con ư ? Vừa ra khỏi nhà anh quên em quên con ngay. Thôi, cũng được đi… bây giờ con cần có anh thì anh bảo anh không thể về vì nỗi khô riêng kia – Thế là thế nào ?

- Vì… vì… thôi, em đừng nên hỏi nữa. Sau này sẽ rõ. Coi như anh đã sai lầm… có lỗi… Mẹ con em hãy tha thứ cho anh đi ! Bé Thảo của chúng ta dù sao cũng có em thương nó… xung quanh có ông bà nội ngoại. Còn cu Tiến ngoài anh ra, nơi đây không có ai cả. Đưa nó về theo, không xong. Bỏ nó lại một mình nhất định không thể…

Giang tái mặt, im lặng.

Không khí trở nên ngột ngạt… một chiếc xe chạy trên đường qua cửa nhà rố máy chạy đi, không gian trở lại im ắng. Lát sau, Giang chậm rãi:

- Thôi, được. Anh đã nói vậy, em không nài ép nữa. Nếu anh chọn giải pháp thứ hai, chúng ta đành phải chia tay nhau. Anh đồng ý chứ?

Ty chưa biết trả lời ra sao, trong thâm tâm anh thực không muốn chia tay Giang, nhưng tình thương con khiến Ty trở nên quyết tâm… Giang im lặng lúc lâu, sau cùng mới lên tiếng: Thôi đành vậy. Duyên phận chúng mình có vậy, đành chịu. Tài sản của bôn mình sẽ bán chia đôi. Anh và em sẽ phải ký một số giấy tờ… Sau khi ký xong… em điện về, nếu anh muốn, thân nhân của người mua ở bên này sẽ giao tiền. Lúc đó chúng ta sẽ hoàn toàn tự do để làm theo việc mà mình thích.

- Việc bán đất chia nhau, theo anh không nên, em cần suy nghĩ lại. Anh đề xuất thế này : Chúng ta có 3 mảnh vườn và một thổ cư trên có ngôi nhà đang ở. Anh sẽ lấy thổ cư cùng một mảnh vườn nhỏ nhất, hai mảnh kia phần em. Tất nhiên thổ cư đó trước mắt mẹ con em cứ ở nếu chưa tìm được nhà khác. Sau này anh sẽ trở về dưỡng gìa cùng các con và chắu . Ngừng một chút, ngẫm nghĩ… lát sau Ty tiếp – Em… em… nhưng thôi, anh nghĩ rằng em đã… chắc sẽ thích nghi với thời đại mới… Cứ nhìn vào em bây giờ là rõ rồi…

Hai người im lặng. Lát sau Giang hỏi : Các phương tiên này – cô đưa tay chỉ cặp máy vi tính, máy Fax – hoạt động bình thường chư ?

- Tốt ! Đưa các thứ giấy tờ đây anh ký. Trong khi Ty thực hiện các yêu cầu kia, Giang tiến đến gọi điện thoại… 10 phút sau bật máy vi tính… máy Fax gửi, nhận các bản in… chỉ sau một giờ hầu như các vấn đề đã được giải quyết. Nhà nghiên cứu thị trường – Ngân Giang đã tiến hành thanh toán các vấn đề tình cảm vợ chồng, cha con thật nhanh gọn, chính xác nhu việc thanh lý đống quần áo may gia công kém phẩm chất, tồn đọng trong kho đã lâu…

Khi bước vào tiếp nhận mối tình với Nhài – và nhất khi là cu Tiến ra đời – Ty đã xác định, mường tượng sẽ có một ngày hôm nay. Nhưng anh không ngờ ngày đó đến nhanh và khi nó đến, cảm giác của lòng mình lại xáo trộn dữ dội đến thế. Anh chỉ còn biết cam chịu, bởi vì không còn đường chọn lựa.

Mọi việc xong suôi đã 4 giờ chiều. Ty giữ mấy Giang cũng không ở, kiên quyết chối từ, ra đi. Ty tiễn Giang ra bến Taxi. Trước khi bước lên xe, Giang xiết chặt tay Ty. Không hiểu sao lúc này lòng cô mới rung động… rung động rạt rào khiến nước mắt trào ra. Không kìm được, cô đóng vội cửa… dục người lái xe chạy ngay. Ty không biểu lộ tình cảm như Giang mà lặng lẽ đứng nhìn theo chiếc xe chạy, khi rẽ ngoặt, mất hút mới thở dài quay người. Nhìn đồng hồ, đã đến giờ đón con. Ty đi như chạy…

Thấy bố đến, cu Tiến lao tới ôm cổ bố, ríu rít gọi ba ơi… ba ơi… Cứ mỗi lần bé biểu lộ tình cảm là Ty lại thấy quên hết nỗi buồn, nhọc nhằn, cay đắng và nhận ra cuộc đời tươi đẹp biết bao…

Tối hôm nay Nhài về muộn.

Vừa bước chân từ ngoài vào, nhìn thấy Ty, cô đã xầm mặt, tiến tới, gằn gọng : Anh không tin em, nên cố tình đến kiểm tra phải không ? Sự ấm ức lâu nay đã tích tụ, giờ dường như được dịp bùng lên. Tuy vậy Ty vẫn cố nén : Cô không làm điều gì trái lương tâm thì việc gì phải ngại. Mà sao trươc mặt lão thọt, phải chối đây đẩy rằng không phải vợ tôi.

- Việc gì phải chối. Sự thực như vậy mà. Cặp nhau, có con… chứ cưới hỏi gì đâu mà chồng với vợ. Ở Đức chuyện đó cò gì lạ. Tôi nói như thế không đúng sao ?

Đến đây thì Ty im lặng. Nhài nói đúng. Cho đến lúc này Ty mới nhận ra cái lý của… người đàn bà đẹp ! Anh không thể cất lên lời, lẳng lặng gục đầu suy nghĩ. Nhài bực bội, ngúng nguẩy đi vào nhà tắm… Lát sau trở ra, trông nàng đẹp như hoa hậu. Ty lại mềm lòng, chủ động làm lành : Vào ăn cơm kẻo nguội hết thức ăn.

- Em ăn rồi. Anh ngồi xuống đây em có chuyện muốn nói.

- Chuyện gì – Ty thảng thốt… linh cảm thấy vấn đề quan trọng.

- Chúng ta hãy chia tay nhau.

- Tại sao ? Hôm trước… lúc nẫy… anh không phải… anh sẽ sửa…

- Anh không có lỗi. Chẳng qua em cố tình… bởi vì… bởi vì… em đã không còn yêu anh nữa. Nếu tiếp tục sống chung chỉ làm cho nhau khó xử, mất vui. Chia tay là cách tốt nhất.

Ty nhướng mắt nhìn Nhài. Bây giờ anh mới hiểu ra. Trạng thái tâm lý của Nhài lúc này dường như qúa ổn định, hoàn toàn khác anh. Nàng nói lên những lời này mà không hề lúng túng. Vấn đề qúa hệ trọng, pha lẫn sự gay cấn, gây cho Ty cảm giác mạnh đến chóang váng. Nó tác động đến tri gíac của người đàn ông , luôn mặc cảm về bản thân trước người đàn bà có bản lĩnh và nhan sắc.

Ty cố dằn lòng, trầm ngâm… lát sau mới thốt lên lời : Cám ơn sự thành thật của em. Anh biết rằng dù níu kéo cũng không được một khi em đã quyết định. Có điều này mới quan trọng : Em không nghĩ đến con ư ? Nó mới 4 tuổi. Thằng bé hiếu động, dễ thương. Không có một trong hai đứa mình con sẽ thiếu thốn, thiệt thòi…

- Em thương con chứ. Nhưng nếu không thương chính bản thân em, làm gì còn tồn tại để thương con, lo cho tương lai của con sau này. Chia tay là cách tốt nhất để em tồn tại. Chuyên này em để cho anh quyết định : Nếu em thực cần cho con, anh hãy ra đi để con lại cho em. Nhưng nếu anh thấy không thể thiếu con, anh hãy cùng con ở lại, em ra đi. Ngừng một chút ngẫm nghĩ… Nhài mới tiếp – Tất nhiên em sẽ phải đóng góp để anh thêm cặp, đảm bảo cho cuộc sống của con không khó khăn…

- Đừng nói nữa. Không cần thiết thứ đó. Không bao giờ anh có thể xa được con. Em cứ yên tâm đi thực hiện cái mà em cho là cần thiết để lo cho ’’tương lai của con’’. Thực ra đó chỉ là cách nói. Em lo cho tương lai của chính em thì có. Nhưng thôi, giữ được người ở chứ ai giữ được kẻ đi. Để hợp pháp, em hãy viết cho anh bản cam kết rằng, em tình nguyện giao con lại cho anh nuôi dậy, vĩnh viễn không có đòi hỏi gì.

- Không thành vấn đề, em viết ngay.

Họ chia tay nhau đơn giản cũng như lúc họ đến với nhau.

Giờ đây, bé Tiến đã 8 tuổi. Cô Nhài đã theo anh chồng người Thổ về sinh sống ở Ankara bên Turkei. Mãy năm trước cô thỉnh thoảng có về thăm con. 2 năm trở lại đây không thấy cô trở về lần nào nữa. Ty vẫn sống độc thân, chăm sóc con trai. Bạn bè xúm vào khuyên giải, mai mối… anh lịch sự cám ơn, khước từ. Khi Ty cặp kè với Nhài, Chinh là người can ngăn, thậm chí phản đối. Đến giờ lại chính anh khuyến khích xúi bẩy, khích bác… nhằm làm Ty thay đổi quan niệm : Tiếp nhận một người, mà ngay từ những ngày vợ chồng Ty khủng hoảng, chia ly – đã tình nguyện đến trông nom bé Tiến, săn sóc Ty mà không hề đòi hỏi mặc cả.

Ty vẫn từ chối.

Quá khứ nặng nề vẫn đè trĩu trên hai vai, lằn sâu trong tâm tưởng… đôi khi lại trỗi dậy.

Và đêm nay – không rõ là lần thứ bao nhiêu – quá khứ kia lại khuây động cuộc đời Ty…

 

(Xem tiếp phần 2)

 

xxx

 

MẸ VÀ… CON – II

Truyện Ngắn

Lê Xuân Quang

(Tiếp theo)

Lo xong đám tang cho ông chồng gìa, Nhài trở về cuộc sống tất bật của người đàn bà góa trẻ, đơn thương độc mã nơi xứ lạ quê người. Ở Đức tuy cũng không phải chính gốc quê hương, nhưng là nơi khởi đầu của một cuộc sống mới, đã để lại trong lòng cô dấu ấn sâu đậm : Cho cô một gia đình với hai người thân yêu – Ty và đứa con trai. Giờ đây, cô trở nên trơ trọi, đơn côi. Nước Thổ  hầu như không có người Việt sinh sống cư ngụ. Người chồng, chỗ dựa cuối cùng đã không còn, Nhài mới chưa đến 30 tuổi. Cuộc sống này là do cô từ bỏ tất cả để chọn. Tuy lúc đầu hoàn toàn làm cô thỏa mãn : Tiền bạc, sự cưng chiều của người đàn ông với ước muốn có những đứa con lai hai giòng mắu do người đàn bà trẻ đẹp, duyên dáng sinh ra nhưng thánh A La không cho ông ta diễm phúc đó!

Khi lần đầu tiên tiếp Nhài đến xin việc, ông chủ Chandra đã mê ngay, dù Nhài chỉ trạc tuổi người con gái thứ 1 của người vợ cả. Ở cô gái châu Á này dường như có ma lực không chỉ ở sắc đẹp mà còn ở sự tinh nhanh, nhậy cảm, khôn ngoan trong ứng xử – đức tính rất cần cho việc kinh doanh. Ông quyết định chọn cô và nói thẳng. Nhài cũng nhận ra gía trị thực của mình… và cuộc chia tay với chồng nhanh chóng diễn ra.

Khi thiếu thốn cái gì, người trong cuộc khát khao muốn có cái đó. Khi có rồi, nhất là có nhiều, khát khao đó nhanh chóng, nhường chỗ cho sự đam mê khác. Nhài cũng ở trong trạng thái tâm lý này. Lúc vừa bước chân ra khỏi biên giới nước nhà, lòng khát khao làm giầu trùm lấp tất cả. Trước mắt, ngày đêm cô chỉ còn nghĩ đên làm giầu, muốn những vật chất mà chỉ có tiền mới đáp ứng được. Mãn nguyện hơn khi ông chồng gìa tạo điều kiện cho cô làm giầu, hứa hẹn nếu cô sinh cho ông đứa con trai, 1/3 tài sản sẽ là phần thừa kế cho cô và con. Mặc sự so le tuổi tác, quan điểm sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng có qúa nhiều khác biệt, thậm chí trái ngược, Nhài và chồng bất chấp, hăng hái lao vào thực hiện ý đồ… Chính vì sự say mê, ham muốn đó, làm cho bệnh tật của ông gìa gia tăng, kiệt lực, đi đến kết qủa cuối cùng : Rời bỏ thế giới này để tiếp tục sự mong muốn ở thế giới bên kia.

Tuy không được hưởng số gia tái bạc triệu nhưng trước khi chết ông Chandra không quên chia cho Nhài món tiền đủ để sinh sống hết đời mà không phải lo lắng gì. Lúc này cô lại khát khao có một gia đình như cô đã từng có. Ước muốn bùng lên, cháy bỏng. Cô không thể sinh cho ông già Thổ những đứa con nên bé Tiến trở lại trong cô với niềm suy nghĩ mới lạ. Nhiều đêm chợt tỉnh giấc, hình ảnh thằng bé khôi ngô tuấn tú lại trở về đày ắp trong ký ức rồi liên tưởng, nhớ tới lúc trở dạ… khi nó lớn dần, ”hành hạ” cô… gieo vào lòng cô những bực bội – tất cả cứ dồn dập phục hiện như cuốn phim quay chậm. Chính những hình ảnh đó đã dằn vặt Nhài…

Tình trạng đó thôi thúc Nhài quay trở lại Đức! ”Nhưng bây giờ hai người đó ra sao ? Họ có còn chấp nhận mình, có nhớ chuyện cũ nữa không. Mặc ! Chấp nhận hay không cũng đành. Nhất định phải trở về” – đoạn độc thoại như tăng thêm dũng khí. Nhài thu xếp, bán tài sản trong phần thừa kế, vội vã trở lại  Berlin sau 6 năm xa cách !

Vốn học được ở người chồng gìa kinh nghiệm buôn bán, việc đầu tiên nhờ thân nhân của chồng đã sống ở Đức gần nửa thế kỷ tìm cho một công việc kinh doanh để trú chân. Chỉ vài giờ sau, người em kế của ông Chandra tới. Ông ta cung cấp ngay một số thông tin ngắn gọn, xúc tích : Kinh tế Đức đang đi xuống. Mọi ngành kinh doanh – nhất là quần áo, vải lụa nghề quen thuộc, truyền thống của nhiều người Thổ – đều ít lãi. Chỉ còn một ngành quy mô không lớn, Đầu tư không nhiều, nhưng luôn luôn có lãi – đó là ngành ăn uống phục vụ . Đông Berlin nghèo, thất nghiệp nhiều mở ra hiệu qủa thu được  không cao. Nên mở ở Tây Berlin, nơi đó ngoài sự ổn định phồn vinh cũ chưa sụt kém mấy, lại có nhiều người Thổ cư ngụ. Mở được trong Siêu thị -  Trung Tâm (2) là tốt nhất.

Nhài làm theo lời khuyên, đăng ký với cơ quan môi giới, không tiếc món tiền lớn đặt cọc để mở ngay một quán ăn nhanh (Imbiss Stub) trong môt Siêu thị – Trung tâm thương mại lớn đang hoàn thiện phần xây dựng, sắp khai trương . ”Có an cư mới lạc nghiệp” – Nhài tâm niệm.

Sau mấy tháng chuẩn bị, quán ăn nhanh Tre Xanh ra đời. Với sự thính nhậy học được, cô bổ xung vào thực đơn một số món ăn Việt Nam khác, cùng với món đặc trưng nổi tiếng của Thổ – Doener Kebap. Qủa nhiên cửa hàng đáp ứng thị hiếu của khách, do đó lãi ngày một tăng. Khi công việc kinh doanh đi vào nề nếp, Nhài mới nghĩ tới chuyện đã toan tính. Cô chưa muốn xuất hiện ngay trước mặt Ty vì ngại quá đột ngột, kích thích, gây cú sốc, sẽ không lợi cho sự tiếp xúc. Nhài tìm đến văn phòng Thám Tử tư đặt vấn đề. Người chủ cơ sở tiếp nhận đề nghị của khách hàng nhiệt tình, hẹn 1 tuần sau sẽ làm khách thoả mãn.

Đúng hẹn, ông chủ giới thiệu với Nhài người Việt Nam tên là Tấn – phụ trách vụ việc này. Đúng hẹn Tấn thông báo ngắn gọn : Chủ của căn hộ ở phố… quận… hồi 6 năm trước – đã chết vì tai nạn ô tô cách đây 3 tháng. Căn hộ đó giờ do một gia đình người Việt khác thuê lại. Chồng tên là Chính, vợ là Phương. Họ có đứa con nuôi 10 tuổi tên là Tiến, có một quán ăn nhanh đặt trên xe ở cửa trạm Tramwei số 26, gần vườn thú Đông Berlin (3). Gia đình họ sống hạnh phúc.

Thông tin của Tân làm Nhài choáng váng.

Cô xúc động… xúc động mạnh rồi bật khóc. Thế là dự tính tìm lại Ty đã không thể thực hiện. Cô tự trách mình, nếu đừng qúa mặc cảm, cẩn thận. Nếu… nếu… về đến Berlin, tìm đến ngay, biết đâu còn cứu vãn được tình thế. Tất cả đã qúa muộn. Nhài khóc thật sự, khóc như cô đã từng khóc một mình trong buồng kín khi quay lưng bỏ chồng con ra đi. Tân thông cảm với khách hàng, lẳng lặng đứng dậy sang buồng bên, lát sau trở ra đưa cho Nhài ly cà phê bốc khói. Nhài đã dần lấy lại được bình tĩnh, sửa lại dung nhan cuối cùng lên tiếng :

- Anh có tìm hiểu về bé Tiến không ?

- Nó hiện sống cùng nhà với vợ chồng kia. Sau khi anh Ty mất, Chính xin với chính quyền nhận Tiến làm con nuôi. Chính quyền quận đồng ý và 4 tuần trước đây, Tiến mới chính thức trở thành con nuôi của vợ chồng anh Chính. Họ yêu qúy Tiến như con ruột mình…

Nhàn nghe với vẻ trầm ngâm. Tân im lặng chờ. Lát sau hỏi : Chúng tôi cần phải làm gì tiếp ?

- Không cần. Việc tôi nhờ đến đây có thể chấm dứt. Anh chuyển hộ tới ông chủ lời cám ơn. Gửi cho tôi hoá đơn thanh toán, Việc tiếp theo tôi sẽ tự làm.

Bước ra khỏi cửa Văn phòng thám tử,  Nhài nẩy ra quyết định… không trở về quán ăn của mình mà đi tới Viện thẩm mỹ nằm gần vườn thú ZOO. Người phụ trach là một phụ nữ Đức trạc trên dưới 40 tuổi đẹp một cách kiêu kỳ. Sau khi nghe khách hàng bầy tỏ nguyện vọng, bà ta vui vẻ : Bà đã tìm đúng chỗ. Viện chúng tôi ngoài nhiệm vụ như đã ghi trên bảng hiệu, còn nhận làm các dịch vụ phục vụ các xưởng phim, các buổi hội giả trang. Bao gìờ bà muốn tiến hành ?

- Ngay bậy giờ.

Bà chủ đứng dậy, lịch sự dơ tay chỉ, Nhài bước theo vào một phòng khác… một người đàn ông, 2 người đàn bà đang làm việc, dừng tay tiến tới, bà kia nói ngắn gọn : Hãy làm cho bộ mặt bà khách này biến dạng, già đi 10 tuổi nhưng không được xấu – Đọan quay sang Nhài mỉm cười tiếp – Bà còn yêu cầu gì khác không ?

- Đủ rồi – Nhàn đăm chiêu, lơ đễnh đáp lại.

- Tiếp tục – Bà ta quay sang dục nhân viên, chào Nhài, rồi quay đi.

… Hai giờ sau từ trong phòng hóa trang đi ra, Nhài đã biến thành một mệnh phụ trạc 40 tuổi, có bộ mặt phong trần, nghiêm nghị, đôi mắt to, đen đã ẩn sau cặp kính mầu nâu, có độ râm chừng 15%. Đầu tóc theo mốt phổ thông đang thịnh hành. Cô tiến đến phía chiếc xe du lịch, bảo chàng thanh niên người Thô đang ngồi bên tay lái : Anh lên tầu điện ngầm về quán phụ với bếp trưởng. Để xe đãy tôi tự lái được rồi. Người kia lễ phép gật đầu mở cửa xe ra, đi. Nhài cho xe chạy về hướng Đông Berlin, gửi xe vào bãi đậu, tiến vào phía quầy ăn nhanh đặt trên một chiếc ô tô chuyên dụng.

Hôm nay thứ 3, hơi vắng khách. Chính giao lại cho vợ trông qúan hàng, đi mua sắm mấy thứ nguyên liệu phụ, chuẩn bị cho cả tuần. Thấy người đàn bà nước ngoài tiến vào, cô Phương đứng bên quầy vội đon đả mời khách bằng tiếng Đức không mấy sõi : Mời bà dùng thử món cơm chiên thập cẩm của chúng tôi.

- Món nào của cô ngon nhất – Nhài nói bằng tiếng Việt.

- Ôi… chị là người Việt à ? Thế mà em cứ tưởng bà Tây lai nào cơ. Nếu vậy mời chị ăn món cơm Vịt. Gía chỉ bằng non nửa so với trong Resstaurant nhưng chất lượng không thua kém.

- Được, cho tôi một đĩa.

Phương bật bếp thao tác… ít phút sau đưa cho Nhài đĩa cơm nóng hổi, thơm lừng. Vừa đưa miếng vịt quay lên miệng… Nhài chợt nẩy ra một ý… nuốt vội… ngẩng lên hỏi : Cửa hàng này đông khách không ? Có mình cộ bán thôi à ?

- Cũng khá chị ạ – Phương tươi tắn, xởi lởi – Doanh thu bình quân hàng ngày cũng được vài ba trăm EU. Do chồng em đảm trách chứ. Em chỉ là phụ.

- Tôi sống bên Mỹ, về thăm người nhà. Thấy bên này làm ăn được muốn mở một nhà hàng ăn uống trong Center nhưng lại không quen thung thổ. Vợ chồng cô có muốn hợp tác với tôi không ?

- Nhưng chúng em không có vốn, vào Center phải nhiều tiền lắm…  không đủ sức…

- Không sao, vốn tôi lo. Cô chú góp sức, góp nghề, trực tiếp nấu là đủ.

- Thế thì tốt. Khoản đó chúng em làm được. Chị yên tâm đi.

- Cô được mấy chắu, lớn chưa ?

- Cám ơn chị, em có – Phương ngập ngừng… một chút rồi mới tiếp – một cháu trai, 10 tuổi.

- Sao sinh thưa thế ?

- Cuộc sống khó khăn, bọn em còn phải tranh thủ… vẫn còn thời gian vài năm nữa sẽ sinh thêm đứa nữa… Giữa lúc đó chiếc xe WV Passat táp vào cửa quán. Phương ngẩng lên ngừng câu chuyện, bảo : Nhà em đã về.

Chính xuống xe đi vào. Phương đon đả : Anh về, may quá, chị đây có chuyện muốn bàn với nhà mình về hợp tác mở quán ăn.

- Thế à ? Chào chị. Vừa nói Chính vừa tươi cười bước tới. Nhài nhìn Chính thoáng biến sắc nhưng có lẽ các chuyên gia hóa trang đã lường đến chuyện này nên Chính không hề nhận ra. Anh bắt tay người đàn bà có tuổi với cảm tình ra mặt : Rất hân hạnh được làm quen với chị. Xin chị cho biết quý danh và chi tiết cụ thể về sự hợp tác này.

- Tôi là Nhàn. Tôi có ý định mở một quán ăn nhanh hỗn hợp Á – Âu trong Center bên Tây Berlin. Đầu bếp món Âu đã có, cần đầu bếp món Việt Nam. Tôi ăn thử thấy thực đơn cơm Vịt của anh khá ngon, nẩy ra ý định… không biết anh có hứng thú cộng tác với tôi không ?

- Hứng thú chứ ! Đó là mơ ước của những anh em làm nghề ăn uống như chúng tôi. Vào Center phải ”có cổ, có cánh”… ấy là chưa kể tới túi tiền. Cả hai điều này tôi đều không có – Chính thành thực.

- Tôi đã nói với cô ấy rồi : Cả hai thứ tôi đều có. Anh cứ việc ra sức là đủ.

- Như thế thì tuyệt. Xem nào – Chính suy tính một chút – Tiếc là bây giờ tôi có việc bận, hay là chiều nay mới chị đến nhà, chúng ta bàn chi tiết.

- Được.

- Đây là địa chỉ của tôi. Sau 19 giờ mời chị đến.

- 19 giờ 30 đi ! – Nhài bật ra ngay vì nghĩ rằng giờ đó chắc bé Tiến chưa đi ngủ (4), cô có thể tự do ngắm, tiếp xúc với con.

Nhà của vợ chồng Chính ở trên tầng 3 của biệt thự cổ, được công ty kinh doanh nhà ở của Quận mới sửa chữa nâng cấp. Vẫn chàng trai người Thổ phụ bếp đi cùng. Trước giờ hẹn 15 phút, Nhài đã gõ cữa . Một cậu bé to cao hiện ra. Nhài giật thót mình, mặt biến sắc : Y như thể Ty đang đứng trước mặt. Đứa bé dường như cũng có phản xạ nhíu mày… Nhài lấy vôi bình tĩnh hỏi : Cho hỏi, chú Chính, cô Phương có nhà không ?

- Dạ có ! Bố mẹ cháu đang ở trong bếp, mời Cô – lưỡng lự chút ít rồi cậu bé nói nhanh – mới Bác… vào. Chỉ một chi tiết nhỏ, Nhài lại thấy tim mình giật thót, nhắc lại ” Bố… mẹ… Bác…”. Vừa lúc Chính ló đầu từ gian bếp ra, tươi cười : Mời anh chị vào . Tiến giúp bố tiếp nước mời khách nhé ! Tôi dở tay một chút, chị thông cảm. Tự nhiên.

Nhài thấy không khí trở nên thân tình, cô không ngồi, tiến thẳng vào bếp tò mò nhìn. Thì ra vợ chồng Chính đang cùng nhau ”thi công” món chả nem – ”Dường như anh ta nhận ra… sao lại biết mình thích ăn nem rám nhỉ” – Nhài ngẫm nghĩ thoáng lo lo. Người lái xe đã bưng vào những hộp các tông qùa của đứa trẻ. Mặc dù rất muốn mua cho con trai nhiều thứ có giá trị, nhưng rồi cô gạt ngay ý nghĩ đó. Sợ lộ nên chỉ mua những thứ thông thường cho cả nhà : Hoa, Bánh kẹo. Rượu X.O, một máy Gam boy loại đắt tiền cho con trai. Tiến nhận quà vui mừng ra mặt…

20 phút sau, mọi thứ đã được bầy lên bàn. Cả nhà Chính cùng hai người khách quây quần bên mâm cơm thịnh soạn, đày hương vị quê hương. Bữa ăn có các món mà 6 năm trước sống với Ty, Nhài hay làm thết đãi Chính và các bạn. Duy cò khác hơn : Gia vị bỏ đúng liều lượng, ướp, nướng rán đúng quy trình nên hương vị, mầu sắc các món bầy trên đìa thơm, đẹp, trông hấp dẫn hẳn lên. Cũng có thể đã lâu Nhài không được thưởng thức nên ăn rấr ngon.

Bửa ăn kết thúc vào lúc 9 giờ. Ngày mai cuối tuần, hôm nay lại có khách nên bé Tiến vẫn chưa bị bố mẹ ép đi ngủ. Vả lại dưới con mắt của nó, bác khách như có sức hút, mỗi khi nó nhìn trôm y như rằng bắt gặp tia mắt của bác ta nhìn lại chăm chú. Tiến chần chừ cố tính chưa muốn đi ngủ, khác với mọi món khách thường đến thăm bố mẹ. Em đâm rụt rè, thậm chí không dám nhìn trộm nữa. Khi bố mẹ thu dọn bàn, chuẩn bị món tráng miệng và đồ uống, Tiến xăng xái mang giúp bố khay chén, ấm, hộp chè. Nhài không thể kìm lòng, nắm lấy cổ tay cậu bé nắn… nắn, hỏi : Cháu mấy tuổi rồi – Ngồi xuống đây – vừa nói Nhài vừa vuốt từ cô tay con lên đến nách. Thằng bé hơi buồn buồn nhưng chỉ mỉm cười nhăn mặt… Nhàn quên mất vai trò nhìn vào mắt bé… cô chỉ muốn áp mặt vào đầu nó mà ghì, day day….

- Cháu 10 tuổi – Tiến dè dặt.

- Cháu có thích đồ chơi mà bác mua không ?

- Dạ, cháu thích lắm. Vừa lúc Chính mang nốt các thứ ra, ngồi đối diện, nhìn Tiến nói nhẹ nhàng : Ngày mai nghỉ lễ nên con không cần ngủ đúng giờ. Nhưng bây giờ bố mẹ có chuyện cần bàn với bác đây. Con vào giúp mẹ những việc đang dở để mẹ ra cùng bố bàn chuyện. Sau khi làm xong, con vào phòng ngủ nhé.

- Vâng ạ ! Tiến vui vẻ đứng dậy. Trước lúc quay người còn nhìn Nhài với cặp mắt vừa ngơ ngác như thăm dò, vừa tin cậy…

Nhài vụt bừng tỉnh. Cuộc tiếp xúc chớp nhoáng, vụng trộm với con trai đã gieo vào lòng cô ấn tượng quá mạnh. Thằng bé cứ như thiên thần trong lòng… Cô không quan tâm đến lời nói xới lởi của Phương vừa từ trong bếp ra. Vẫn như đang đắm chìm trong mộng ảo, tiếng Chính vang lên: Nào, chúng tôi muốn nghe kế hoạch hợp tác của chị.

Nhài bừng tỉnh, hơi hốt hoảng  : Tôi đã tìm và thuê được trong Center một quầy bán đồ ăn nhanh. Mọi thứ đã sẵn nong sẵn né. Nếu anh chị đồng ý, ngày mai có thể sang tham quan và quyết định.

- Chúng ta sẽ hợp tác như thế nào ? Chính dè dặt.

- Sẽ có 2 phương án : Thứ nhất, anh chị góp vốn – góp bao nhiêu cũng được – cuối tháng trừ mọi chi phí kể cả việc trả lương cho hai người – lãi chia theo tỷ lệ. Thứ hai, anh chị đến làm thuê, tôi trả lương.

- Chị có thể cho biết, gía trị đầu tư ban đầu của cơ sở này là bao nhiêu ? Xin lỗi, tôi không phải tò mò, chỉ muốn biết cụ thể để lượng sức mình đi đến quyết định chọn phương án hợp tác…

- Đó là ý kiến của người biết làm ăn. Không sao. Trừ khoản tiền đặt cọc cho chủ Center để có chỗ – nhưng khoản này tôi đảm nhiệm, anh không phải lo. Tới hôm qua tổng số là 300 trăm nghìn.

- Thế thì chúng tôi sẽ chọn phương án hợp tác thứ nhất, góp 1/3 vốn đầu tư. Nhưng…

- Tuyệt diệu.Anh chưa cần quyết định ngay. 2 giờ chiều mai tôi sẽ cho người mang hợp đồng rôi đưa anh chị sang tham quan cơ sở. Tôi cũng cần trao đổi với các đồng sự… sau đó chúng ta sẽ chính thức ký hợp đồng liên doanh. Liệu có vấn đề gì không ?

- Không. Thế là xong. Mọi chuyện để ngày mai quyết định tiếp. Bây giờ mời chị thưởng thức Cà phê Lâm Đồng thứ thiệt pha bằng Phin, sữa đặc Con gái (5). Chè Thái Nguyên loại hảo hạng. Còn đây là hai đặc sản đó, biếu chị mỗi thứ 1 cân, đem về uống thử. Vừa lúc trong bếp có tiếng động. Phương đứng dậy đi vào, lúc trở ra, có cả Tiến. Nhài và Chính nhìn chưa hiểu ra chuyện gì, Phương giải thích : Con trai không thể đi ngủ vì câu chuyện của chúng ta qúa hấp dẫn… nên trở ra bêp ”nghe trộm”.

- -… Chuyện bình thường đang bàn thôi con ạ. Nếu con thích, ngày mai bố mẹ cho con cùng đi. Sau này lớn lên con hãy học ngành quản trị kinh doanh để nối nghiệp. Mà con cũng cần phải biết thật… Còn bây giờ chuyện đã bàn xong, nên đi ngủ để mai lấy sức đi cả ngày kẻo sẽ mệt đãy.

Nhài chỉ còn biết im lặng, nhìn con chăm chắm. Thằng bé dường như biết lỗi bẽn lẽn không nói lên lời. Cô Phương rất tâm lý xoa dịu : Mẹ nói đùa là con nghe trộm. Đừng giận. Người trong nhà, con lại là con trai, đây là việc lớn đáng lẽ phải cho con ngồi cùng nghe mới đúng. Lần sau bố mẹ sẽ rút kinh nghiệm. Còn bây giờ chuyện làm ăn đã bàn xong. Con nên đi ngủ nhé. Tiến đứng dậy lễ phép : Con xin lỗi bố mẹ. Xin lỗi bác. Dứt lời Tiến đi về phòng mình, khép cửa nhẹ.

Lợi dụng cơ hội, Nhài đưa đẩy : Thằng bé thông minh, ý tứ, hiểu phong tục của ta, nói tiếng Việt còn sõi hơn nhiều đứa lớn tuổi… Anh chị dậy cháu giỏi thật.

Phương nhìn chồng.

Chính đưa mắt lơ đãng… ngậm ngùi : Có lẽ bi kịch gia đình nó đã thấm vào xương tủy khiến nó trở nên khôn trước tuổi chăng ?

- Sao, anh nói rằng bi kịch gia đình nó à ? Anh chị không phải là bố mẹ đẻ của cháu ?

- Chúng tôi là bố mẹ nuôi. Nhưng thực ra chắu cảm nhận được chúng tôi không có gì khác với bố đẻ. Bởi vì mới 4 tuổi, mẹ bỏ đi với người đàn ông giầu có khác, bố con nuôi nhau, nhà tôi đã thay họ chăm bẵm chắu cho tới nay…

- Sao lại thế ? Mẹ nó đi ? Bố nó làm gì mà không chăm được lại phải để chị Phương thay ?

- Tôi đã nói, đây là bi kịch gia đình… Ở xứ này một người đàn ông lười ở nhà ôm con cũng chẳng sao, không đói – thậm chí vẫn sung túc. Nhưng đối với người đàn ông có bản lĩnh là cực hình. Thằng bé 4 tuổi mẹ bỏ, làm sao bố cũng lại quang quật con… bố nó đành bỏ việc, gà trống nuôi con. Mãi sau vợ tôi tới giúp, bố nó mới đi làm. Điều kỳ quái, cậu ta kiên quyết không lấy ai, mặc dù có nhiều người đàn bà cảm phục, tình nguyện đến. Cảnh đó kéo dài suốt 6 năm chứ có ít đâu. Ba tháng trước do sơ xuất cậu ta đã bị chết trong một tai nạn ô tô.

- Em nuôi chắu từ lúc bé – Phương góp thêm – Chắu lại không cảm nhận được tình cảm cụ thể của mẹ đẻ nên nó coi em như mẹ đẻ vậy. Nhà em nghiêm khắc, thẳng thắn nên Tiến có vẻ sợ bố mà gần gũi với em hơn. Đúng như chị nhận xét : Điều gì cháu cũng hiểu, nói năng chuẩn xác, gẫy gọn, ứng xử tinh tế, khác hẳn những đứa trẻ cùng trang lứa.

Cô Phương thỏa sức khoe con. Nhài im lặng ngồi nghe hai người ca ngợi đứa con nuôi, trong khi cô sinh ra nó mà chẳng nói được lời nào.. Lòng cô tê tái, như dao cắt kim đâm. Chợt nhận ra, nếu còn ngồi nán lại thêm, chắc chắn cô sẽ òa khóc… Nhài ngẩng lên, vờ nghiêm nghị : Thật mừng cho anh chị có đứa con xinh đẹp, thông minh, đáng yêu  . Bây giờ cũng đã khuya, tôi xin phép, chiều mai chúng ta hẹn gặp lại.

Họ chia tay nhau trong tâm trạng một bên vui, còn bên kia buồn não ruột…

 

Đã 3 tháng trôi qua mà vợ chồng Chính không gặp lại Nhài. Là bởi ngay buổi chiều hôm sau hẹn hai vợ chồng sang đi xem cơ sở kinh doanh, Nhài nhờ cô bạn thay mình tiếp họ, nhắn rằng phải trở lại Mỹ thu xếp việc gia đình, chuyển hẳn sang châu Âu sinh sống, người bạn – cũng là cổ đông lớn của công ty – thay mình giao tiếp với Chính trong qúa trình làm thủ tục góp vốn và bắt tay làm việc.

Nhà hàng qủa thật bán chạy khiến Chính, Phương bận túi buị, không còn thời gian nghĩ tới những chuyện khác. Đã có kinh nghiệm phục vụ ở quầy ăn nhanh trên đường phố từ mấy năm nay, hai vợ chồng đem áp dụng vào cơ sở này mà lượng khách thường xuyên gấp hơn 5 lần quán cũ… Ngoài tiền lương, mỗi tháng còn được chia lãi xuất gấp 2 lần tiền lương đã nhận. Cuộc sống của hai vợ chồng sung túc, giầu lên so với lúc còn tự đứng ra kinh doanh. Hai người vui mừng khôn xiết, cảm ơn số mệnh đã mỉm cười. Phương vốn lòng thành một hôm bảo chồng: Chúng mình đã làm một việc tốt thực hiện được nguyện vọng của Ty, chăm sóc bé Tiến chu đáo nên anh ấy phù hộ, khiến vợ chồng mình gặp may, làm ăn phát tài.

Chính tuy không tin, nhưng anh cũng không phản đối nhận định của vợ. Trong thâm tâm. anh thương Ty, thương bé Tiến. Lòng thương đã bao trùm tất cả để vượt lên trên mọi khó khăn, thực hiện ước nguyện cuối cùng  của người bạn xấu số. Đìều an ủi lại là bé Tiến thực sự yêu qúy vợ chồng anh. Khoảng cách, ranh giới giữa con Nuôi và con Đẻ đã không còn.

Một buổi chiều 4 tháng sau khi gia nhập ASIA IMBISS TRE XANH của ”bà Nhàn”. Chính, Phương đang tất bật phục vụ khách, một người phụ nữ xinh đẹp từ ngoài cửa tiến vào. Chị ta chọn chỗ ngồi xa khuất trong góc, gọi món ăn, mà lại không có trong thực đơn. Phương đứng bán vốn chiều khách sau khi biết đó là người Việt từ một nước khác đến, cô hỏi với vẻ thân tình : Chị thật thích món ăn này à ? Trong thực đơn đã được trình duyệt… không có. Nhưng em sẽ hỏi anh đầu bếp xem, có thể nấu được không. Nguyên liệu đều có sẵn cả rồi. Chị viết cụ thể ra đây cho em và chờ một lát nhé !

Người khách mỉm cười thoả mãn, gật đầu làm theo. Phương đưa mảnh giấy kia cho Chinh : Anh xem có thể nấu được món này không. Một phụ nữ từ nước khác đến, có nguyện vọng vì theo chị ta, hơn 6 năm không được ăn món này.

Chinh cầm mảnh giấy đọc, đưa mắt nhìn ra chỗ Nhài, mặt biến sắc… Cô khách ngồi hướng mặt về phía Chính đang đứng – bình thản nhìn lơ đãng khắp quầy hàng. Chính hối hả : Em ra bảo cô ấy chờ, 20 phút sẽ có, rồi sau đó cứ phục vụ khách khác, để cô ấy cho anh.

Chính quay sang nói với người phụ bếp…  bắt tay làm.

Món khách đặt hoàn thành, Chính làm thêm đĩa tôm tẩm bột rán, xúc bầy ra đĩa đặt vào chiếc khay, cùng Bia, ly, bát đũa, các lọ gia vị nhưng không phải dành cho một người mà lại cho 3 người. Khi chuẩn bị xong, Chính cởi bỏ tạp dề, quần áo đầu bếp, khoác chiếc áo véc tông, bưng khay thức ăn đi đến trước mặt người khách. Nhài ngẩng lên, làm ra vẻ vui mừng khẽ thốt :

- Ô, anh… làm ở đây à ?

- Còn cô, chán nước Thổ rồi hay sao mà lại xuất hiện ở đây ?

- Thì cũng phải thay đổi chút ít cho cuộc đời thêm mầu sắc chứ. Tuy thế, lại thây nhớ món xưa… nghe người ta đồn quán này chiều khách, nấu ngon lại rẻ, tôi đến thử…

Chính đặt khay thức ăn lên bàn, kéo ghế, thong thả ngồi xuống, im lặng nghe. Nhài để cho gìong tự sự tuôn trào, ngừng một chút rồi lại tiếp – Nhưng sao anh mang ra nhiều thế?

- Đúng ! Cho 3 người. Cô, tôi và cả Ty nữa. Cô không cảm thấy lúc nào Ty cũng ở bên cạnh chúng ta ư. Nào, Ty, cậu hãy cùng bọn mình nâng ly, gắp món mà 3 đưa mình đặt chân tới nước Đức hồi 10 năm trước, vào nhà hàng bên Tây Berlin, cậu gọi chúng ta cùng ăn – vừa nói Chính vừa nhấc hai ly bia lên ngang mặt, nghiêm trang làm bộ chúc rượu.

Nhài không nói gì làm theo.

Chính nhìn Nhài… tợp một ngụm, đặt ly bia của Ty xuống… – Gắp vào chiếc bát không – để bên cạnh ly bia – con tôm nõn cỡ 150 Gram, bọc trong lớp bột vàng rượm, mấy miếng thịt bò xào lăn, cuộn tròn như chiếc sâu kèn khổng lồ, dục – Ăn đi. Các món mà cậu thích do đích thân tơ làm đãy.

Lúc đầu Nhài còn cố gượng làm ra vẻ thờ ơ. Nhưng đến lúc này thì không còn chịu được nữa bởi Chính gợi lại quá khứ cùng hiện tại mà mấy tháng qua cô đã lén lút tiếp xúc, chứng kiến. Nhài đặt ly bia xuống bàn, nước mắt tuôn trào, bật thành tiéng nấc… gục xuống. Chính lặng lẽ nhìn. Hai mắt hướng chăm chắm vào Nhài. Một lúc sau, dường như đã thấy hả cơn giận, mới lên tiếng tiếp, gịong nhỏ nhẹ : Bây giờ cô sống ra sao ? Còn ở Thổ hay về Đức rồi ? Có hạnh phúc không ?

Nhài lại càng khóc to hơn.

Từ lúc chồng bưng khay thức ăn ra cho người khách Phương đã bắt đầu chú ý. Khi hai người đối đáp… và cô khách khóc, Phương bảo người bán phụ thay, xăm xăm đi ra nhưng vẫn giữ bình tĩnh, hỏi Chính : Có chuyện gì thế anh ? Sao cô ấy khóc ?

- Cô ấy chính Nhài, là vợ trước của Ty, mẹ bé Tiến, mới từ bên nước Thổ về. Vè mặt Phương chùng xuống, khẽ nhắc : Hai người về nhà  đi. Về nhà nói chuyện cho thoải mái, tự nhiên. Ở đây đông người, ảnh hưởng tới khách…

Nghe đến đây, Nhài ngẩng lên, lấy khăn giấy trong túi sắc lau mắt, lên tiếng : Xin lỗi chị. Tôi qúa xúc động khi anh ấy nhắc lại chuyện xưa chứ không có gì đâu…

- Tôi hiểu, tin chồng tôi chứ. Tôi nhắc là vì sợ ảnh hưởng tới cửa hàng không phải hiểu lầm… ghen tuông đâu. Hay sang Resstaurant, có bàn phục vụ riêng. Chắc chị cần biết nhiều chuyện về Ty, về bé Tiến. Cứ đi đi, đừng ngại.

Nhài nhìn thẳng vào mắt Phương, gật đàu, hướng sang Chính. Chính quay sang bảo vợ :

- Em thu dọn, hết giờ cứ về, nhưng chớ hở chuyện này ra để con trai biết. Phương gật đầu, im lặng. Chính, Nhài đứng dậy đi bộ sang khách sạn nằm đối diện với Center, bên kia đường.

Cơn xúc động đã dịu, lắng đọng… Nhài không khóc nữa nhưng nét mặt buồn. Chính không chịu được cảnh nhìn đàn bà khóc sướt mướt, vả lại 6 năm sau mới gặp, trông Nhài có vẻ tiều tụy… Không khí căng thẳng dịu đi. Cơn giận tức, ghét lui dần… Khi người bồi đặt hai ly rựơu lên bàn, lui ra, Nhài chủ động lên tiếng : Chính cho tôi biết Ty bị tai nạn trong trường hợp nào ?

- Cậu ấy lái xe say rượu, va phải chiếc xe tải… Đưa vào nhà thương hai giờ sau mới mất…

- Lúc anh ấy sắp mất, anh có mặt không ?

- Rất may, hôm đó cửa hàng của bọn mình đóng cửa. Mình và Phương đều đến kịp…

- Anh ấy nói gì trước khi ”đi” ?

- Giao bé Tiến cho bọn mình chăm sóc. Chính nhìn thẳng vào mắt Nhài. Nhài nhìn lại… ngần ngừ… định hỏi thêm nhưng rồi lại thôi. Chính hiểu ý cái nhìn của Nhài, im lặng… Lát sau Nhài tiếp : Tôi quá ân hận. Tưởng rằng… nhưng không ngờ… Thôi, số mệnh đã an bài… Chẳng sao cưỡng lại được.

- Bây giờ Nhài sống ra sao ?

- Chồng tôi cũng mới mất. Tôi quyết định trở lại Berlin – Nhài ngần ngừ… ngần ngừ… lát sau giọng rắn rỏi – Một trong những vấn đề lớn nhất phải làm là tìm, chăm sóc con thay anh Ty. Nhài ngừng lại. Chính im lặng nhìn chăm chăm… Nhài như khộng chú ý đến người đối diện, tiếp – Giờ biết chắu đã được anh chị chăm nom, thú thật khi… tôi rất… yên lòng…

Ánh mắt Chính dịu đi.

Nhài tợp ngụm rượu, tiếp : Khi anh Ty còn sống, tôi có thể yên tâm thực hiện mục đích của mình mà không e ngại. Giờ anh ấy đã mất… tôi lại ở đây, không thể làm phiền anh chị nuôi con thay cho tôi… Nhất định không thể được. Anh chị có thể giúp, cho được làm cái việc khó khăn này : Giao lại bé Tiến cho tôi ! Tôi sẽ đến bù lại cho anh chị thật xứng đáng…

Nhài ngừng đột ngột ngẩng nhìn, chờ đợi.

Chính nhuớng mắt nhìn lại, thong thả nói như tự vấn lương tâm mình : Điều đó Ty không trối trăn lại. Không thể làm trái ý người đã khuất ! Làm như vậy chả hóa ra cô trả công nuôi dưỡng chắu ư ?

- Đền bù công dưỡng dục là xứng đáng. Cha mẹ sinh con, nuôi con cũng chỉ làm mục đích sau này già, được con cái chăm sóc lại…

- Cô đừng nói nữa. Chúng tôi không cần những thứ đó.

- Nhưng chắu đích thực là con tôi. Mẹ nuôi con là thiên kinh địa nghĩa mà !

- Thế mẹ bỏ con lúc còn thơ dại là gì ? Phải nói là Trời không dung, Đất không tha mới đúng chứ ? Vả lại trên cơ sở pháp lý, cô đã từ bỏ chắu… Tiến đã là con hợp pháp cuả chúng tôi. 8 năm nữa chắu thành niên sẽ tự quyết định số phận mình…

Nhài gục xuống, im lặng. Lát sau ngửng lên nài nỉ : Tôi đã hiểu ra lỗi lầm của mình… đã phải trả gía đó bằng sự ân hận ngày đêm trong suốt mấy năm qua. Anh chưa sinh con, chưa thấm được sự chia lìa đứa con mà mình dứt ruột đẻ ra… anh hảy thương xót tôi như đã từng thương xót Ty. Hơn nữa hãy thương xót chắu Tiến. Không có ai, không có gì bù đắp nổi sự thiếu thốn, mất mát tình mẹ con, khi hai người sống gần nhau mà không được coi nhau là con, là mẹ.

Nhài hạ giọng nói như chỉ cho riêng mình : Anh chị còn bên nhau… có thể sinh những đứa con khác. Còn tôi… mất tất cả rồi !

Trên khuôn mặt hốc hác được lớp kem che đi sự xúc động tột cùng, nhưng dường như càng xanh tái hơn, trông Nhài thật thê thảm. Chính không còn chút nào giận người đàn bà này nữa. Ngay từ lúc họ đến với nhau, sống, chia tay nhau… chưa lúc nào anh có chút cảm tình với Nhài mà chỉ có sự ghét bỏ. Khi nhìn Ty hấp hối, điều đầu tiên nghĩ tới là Nhài ! Anh cho rằng cái chết của bạn mình là do Nhài gián tiếp gây ra, thề sẽ không bao giờ tha thứ nếu có dịp gặp lại.

Thế mà giờ đây, trước mặt Chính, người đàn bà mà anh ghét bỏ trở nên đáng thương. Tận trong đáy sâu cõi lòng, vang lên tiếng thì thầm :”Thôi, hãy tha thứ cho người. Đó là số mệnh… khi họ làm  điều gì – kể cả đi đến cõi chết – cũng đã bị số mệnh chi phối. Họ cứ cắm đầu làm… để rồi sau đó gánh chịu hậu qủa và sự trừng phạt. Thế thì ta ở ngoài, có quyền gì thay đấng tối cao tiếp tục trừng phạt… ban cho người số mệnh” ?

Nhài không khóc nữa. Cô như không còn nước mắt. Từ trong đôi mắt bàng bạc kia Chính thấy rất giống ánh mắt của Ty lúc cậu ta say rượu… Chính ân cần cúi xuống, đặt tay lên vai Nhài, khẽ khàng : Thôi được rồi. Cô nhận ra lỗi lầm là đủ. Tin rằng dưới ấy, Ty cũng đồng tình với tôi mà tha thứ. Chúng tôi sẽ trao lại bé Tiến cho cô chăm sóc. Nhưng có điều này cô cần chuẩn bị : Bé Tiến rất thương bố. Thông minh – không, phải nói rằng nó có bản lĩnh, phát triển trước tuổi. Chúng tôi thành thực mong cho mẹ con cô đoàn tụ. Nhưng chưa biết ý thằng bé thế nào.

- Chỉ cần anh chị ủng hộ, nhất định chắu sẽ nghe. Vả lại – Nhài ngần ngừ… – lẽ nào chắu lại từ chối tấm lòng của người mẹ.

Chính im lặng… trầm ngâm… lát sau tiếp : Tôi cần về thuyết phục Phương. Tất nhiên khó, nhưng cô ấy là người phụ nữ có lòng thương người, bao dung, hiểu biết. 6 năm qua cô ấy thương Tiến như con ruột. Giờ trao lại cho người khác không phải chuyện dễ. Tuy nhiên nhất định thuyết phục được. Còn nữa, cần phải thăm dò, chuẩn bị tinh thần cho bé Tiến. Khi nào thấy thuận lợi, tôi sẽ thông báo… sẽ thống nhất ngày sang tận nhà, công khai sự xuất hiện của cô, nói cho chắu biết sự thật. Mong rằng mọi chuyện suôn sẻ. Chính nhấn mạnh: Trong khi tiếp xúc, chớ nói gì xúc phạm tới Ty, dù là lời bóng gió, hay tối nghĩa. Vì nó coi bố như thiên thần.

Nhài vồ lấy tay Chính xiết chặt. Trong người cô như bừng lên sức sống mới…

Cuộc họp mặt được hai người thống nhất sau đó 2 tuần.

Phương ”thông” nhanh hơn Chính tưởng. Cô qủa thật có tấm lòng rộng mở. Nhưng Tiến thì dửng dưng khi nghe Chính thông báo rằng có người quen bên ”mẹ đẻ” muốn gặp. Nhất là lúc Chính nói bóng gió ”nếu Mẹ đẻ con tự nhiên xuất hiện trước mặt con sẽ thế nào” ?

- Con chẳng thế nào cả. Mẹ của con là Mẹ Phương, hàng ngày bên con. Người khác thì con không biết – Tiến trả lời ráo hoảnh.

Lát sau mới lại lơ đãng, dè dặt :

- Người đó là ai thế, bố ?

- Cứ yên trí, lúc đó con sẽ biết – Chính trả lời lập lờ.

Hôm nay Nhài ăn vận lịch sự. Với sắc đẹp vốn có cộng sự trang điểm của các chuyên gia Viện Thẩm Mỷ, trông cô rực rỡ hơn so với tuổi 29 của mình. Cô đến đúng giờ. Cả nhà Chính đã chờ sẵn. Nhài bước vào, Chính, Phương đã chuẩn bị tinh thần nên đón Nhài vui một cách rất tự nhiên. Khi tất cả đã an tọa, Chính kéo Tiến đến trước mặt, hướng sang phía đối diện, ngập ngừng… rồi tiếp với giọng nhỏ nhẹ, tình cảm : Bố giới thiệu với con, Đây là cô Nhài, Mẹ đẻ của con, khi sinh con ra, nuôi con đến 4 tuổi… do hoàn cảnh… phải đi xa… giờ trở lại muốn đón con về ở cùng.

Tiến chăm chú lắng nghe, nhìn chăm chăm vào mặt Nhài.

Nhài cố làm ra vẻ vui. Cô nghĩ rằng với hình dáng bề ngoài, nhất định con trai sẽ có ấn tượng tốt mà chấp nhận. Phải chừng vài phút im lặng trôi đi. Mọi người không ai lên tiếng. Nhài bắt đầu trở lại khuôn mặt đăm chiêu… Phương, Chính hết nhìn Tiến lại nhìn Nhài nhằm khích lệ. Cuối cùng Tiến dằng khỏi tay Chính, đứng thẳng, rắn rỏi lên giọng nhưng vẫn rõ giọng của đứa trẻ chưa vỡ tiếng : Đây mà là mẹ đẻ con ư ? Lúc bố còn sống không bao giờ nhắc cho con biết có mẹ đẻ. Chỉ có mẹ Phương cho con ăn, ngủ, mua cho con đồ chơi, dắt con đi học… Con chỉ có mẹ Phương, có hai người bố. một người đã chết… Con không có ai là người thân, ngoài bố Chính, Mẹ Phương.

Mọi người kinh ngạc nhìn nhau im lặng.

Mặt Nhài tái dại.

Tiến cúi mặt, khẽ tiếp – Nếu bố mẹ không thích con nữa thì con vào trại mồ côi. Con không đi theo ai hết. Dứt lời Tiến vùng vằng đi ra. Khi khuất sau khung cửa, Phương mới hốt hoảng chạy theo, gọi giật giọng :

- Tiến… Tiến… chờ mẹ… mẹ nói câu này… không phải…

Chính ngơ ngác…

Nhài ứa nước mắt, mồm lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại ”giời ơi… giời ơi”… rồi òa khóc. Khóc ngày một to hơn. Chính cũng đầm đìa nước mắt, hướng sang Nhài nói nhát gừng : Bi kịch… Thôi… Nhài… thằng bé không thể tiếp nhận được ngay… hãy cho con chút ít thời gian… nó tĩnh trí lại, chúng tôi khuyên giải… mọi chuyện sẽ ổn.

- Giời ơi là giời ! Giời ơi ! – Nhài không nín, vẫn khóc, mồm vẫn lẩm bẩm lặp đi lặp lại câu than giời ơi… kia !

 

Vienheim – Tháng 6 năm 2002.

Berlin tháng 4/2011

LXQ

—————–

 

GHI CHÚ

 

(1). Nguyên văn : Ở Hiền, gặp Lành. Nhân vật cố tình biện báo đọc trệch đi…

(2). Ở Đức, các khu động dân cư người ta xây dựng các khu buôn bán khang trang đồ sộ, nhiều tầng, diện tích hàng vạn mét vuông… gọi là Center (Trung Tâm). Trong này có rất nhiều hãng buôn, cửa hàng phục vụ đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng…

(3). Thủ đô Berlin có hai vườn bách thú nằm ở hai vùng Đông và Tây…

(4). Trẻ con ở Đưc – 8 giờ tối, bố mẹ bắt buộc phải đi ngủ đề sáng hôm sau dậy sớm (7giờ) đi nhà trẻ, đi học…

(5) Một loại nhãn hiệu sữa nước, đóng hộp, giống như sữa ông Thọ của ta…

 

 

 

NGÀY XUÂN, CÙNG LÊ XUÂN QUANG – MỘT NGƯỜI CON XA TỔ QUỐC BÀN ĐÔI ĐIỀU VỀ MIẾNG NGON QUÊ NHÀ (phần 2)

Cháo TIM, GAN, BỒ DỤC

Gần 30 năm rong ruổi, lăn lộn với nhiều nghề, tích cóp được chút vốn, bạn tôi quyết định dừng chân trên con đường phiêu bạt : Mở nhà hàng ăn uống món ăn  ’’Thuần Việt’’.

Trước khi triển khai công việc, anh mời vài người bạn tới góp ý cho dự án rồi ’’thưởng thức dăm ba món cổ truyền cùng với món ‘’mới toanh’’ – cập nhật chọn lọc từ chương trình dậy nấu ăn  qua internet, sách báo… Vốn là chỗ thân quen, tôi nhận lời ngay.

Sau khi nghe anh trình bầy tóm tắt ý định… Tuy dự án có sức thuyết phục, tôi vẫn thấy gợn lên thắc mắc: Mức thu nhập của dân Đức đang giảm, thấp hơn so với mấy năm trước, sức mua kém, đã có hàng chục cửa hàng ăn uống lớn, bé của ngưòi Việt ở thành phố, các quán ăn Tầu nhan nhản… mở tiếp – liệu sẽ ra sao?  

- Không sao – Bạn tỏ vẻ quyết tâm – Chấp nhận cạnh tranh bằng những ’’độc chiêu’’, bằng sự đổi mới. Ngừng một chút, bạn vẻ tự tin : Mình sẽ tung ra những món ăn Thuần Việt cổ truyền để tự khẳng định thương hiệu.

Tôi chưa lên kịp tiếng bạn tợp hớp ‘’cuốc lủi’’, tiếp: Khách ăn Đức đã ăn các món có thực đơn của châu Á – cũ mèm, lai tạp, khi thấy có thực đơn mới – tuy đối với người Việt là qúa cũ, còn đối với khách hàng Đức lại gây kích thích làm họ muốn thay đổi khẩu vị. Mình sẽ cho quán Hoa Nhài mở cửa trái ngược với thời gian của các của hàng ăn uống thông thường bằng cách cho lệch giờ: Hoạt động từ 8 giờ tối đến 4 giờ sáng, phục vụ những khách có nhu cầu ăn đêm…

Tôi tiếp tục ’’phản biện’’: Món ăn có thể yên tâm, sẽ thu hút khách nhất là khi thành phố có tới gần 50 nghìn cư dân Việt sinh sống. Biết nơi có bán món ăn cổ truyền, họ sẽ tìm đến. Chỉ cần mươi phần trăm đến thôi đã đủ thắng lợi rồi.

- Nhưng các món ngon hấp dẫn dân ta thường chế biến từ nguyên liệu dễ phân hủy (lòng lợn, tiết canh…) hoặc ăn tái, ăn sống (gỏi) trong khi vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm của Đức rất khe khắt. Nên nhớ – dân Đức không chuộng các món ăn này.

Lại nữa – phục vụ cho người ăn đêm xem ra khó thực hiện. Luật của Đức: Cửa hàng ăn uống chỉ được phép mở đến 23 giờ. Các vấn đề này sẽ giải quyết ra sao?

Bạn chậm rãi giải thích: Vệ sinh thực phẩm phải tuyệt đối tuân thủ theo quy định. Phải ‘’hi sinh’’ những món ngon, truyền thống… nhưng khó thực hiện ở Đức. Về mở cửa ban đêm, tôi đã tìm được một căn nhà hầm nằm trên một phố sầm uất, gần ga xe lửa, ga tầu điện ngầm đầu mối giao thông công cộng, đông người đi lại. Có thể bố trí được nhiều buồng với nhiều chức năng. Tuy tiền thuê rẻ, nhưng đầu tư cho sửa sang, cấu trúc lại – khá tốn. Không sao, cốt là đáp ứng được nhu cầu xử dụng. Vấn đề chính : Muốn có khách ăn, trước hết phải quảng bá, giới thiệu món ăn ‘’có một không hai’’ cả trên báo giấy, tờ rơi lẫn trên Internet…. Việc này phải nhờ anh – bạn hướng vào tôi – quản lí, điều hành cho trang Web, tiến hành in ấn Card Menu , tổ chức mang đến tận các thùng thư của từng nhà trên phố để khách ăn đọc được sẽ tới ăn thử. Chỉ cần họ đến 1 lần là chúng ta sẽ chinh phục đưọc dù là người khó tính…

Thấy cách làm có’’bài bản’’, tôi bị dự án của bạn ‘’thu phục’’ nên đồng ý ngay. Bạn quyết định sẽ khai trương cửa hàng vào trưóc Noel.

Hai ngày sau, dự án bắt đầu triển khai…

2 tháng sau nữa, quán Hoa Nhài chính thức đi vào hoạt động.

Hôm khai trương, vì có việc đột xuất phải đi xa không được dự, 1 tháng sau trở về, tôi quyết định ra xem Hoa Nhài ’’nở về đêm, hương sắc’’ – thế nào?

Hôm nay thứ 6, quán động nghịt người ăn uống, sàn khiêu vũ trong khí thế – ’’Xả láng’’ nhạc điện tử chói tai, các cặp ra nhẩy hăng say.

- ‘’Một tháng sau khai trương mà lượng khách thế này là sống rồi’’ – tôi nhủ thầm và vui với kết qủa của bạn mình!

Chọn một chổ khuất trong góc nhà, ngồi ngắm, chờ tiếp viên tới. Thấy 10 nhân viên phục vụ – 5 nam. 5 nữ – tíu tít chạy luôn chân… chờ một lúc nữa vẫn chưa thấy ai tiếp, đành đứng dậy định ra về tự hẹn hôm khác sẽ trở lại. Vừa lúc, một cậu trai ăn bận đồng phục bồi bàn, tiến đến vui vẻ, hỏi: Thưa, chú cần gì cháu xin phục vụ. Cháu biết chú đến nhưng đang dở với món khách đặt bàn, mong chú thông cảm.

- Không sao. Tôi hiểu. Nếu cậu bận cứ đi phục vụ khách. Hôm khác tôi trở lại.

- Thưa chú không được. Ông chủ đã dặn tất cả nhân viên phục vụ: Chú đến, bất cứ lúc nào cũng phải phục vụ ngay, nhanh nhất và không được tính tiền, lấy rượu cuốc lủi của riêng ông chủ để tiếp chú.

- Thế à? Nhờ câu chuyển lời cám ơn của tôi tới ông ấy. Cậu thử giới thiệu xem các món đặc trưng ‘’Thuần Việt’’ của các vị xem sao. Tôi ’’rao’’ trên mạng mà chưa thực mục sở thi – nếm thử.

- Thưa chú, có tất cả 3 nhóm món ăn. Nhóm thứ nhất chế biến nền tảng là Gạo, gồm: Phở, Cháo, bánh Cuốn, Bún chả, mổi loại có từ 2 đến 5 món. Nhóm thứ 2 – Cậu ta đang định thao thao giới thiệu, tôi ngắt lời ngay: Thôi, lần khác trước khi nếm thử hãy nói tiếp. Còn bây giờ, cho bát cháo Tim, Gan, Bồ dục. Trong khi chờ, cho tôi li cuốc lủi trước. Chàng trai lịch sự đáp – vâng rồi đi ngay.

Vài phút sau cậu bưng tới li rượu cỡ 50 mililít, mầu trắng trong, đang sủi tăm. Tôi nhấp môi: Qủa thật đây mới chính là cuốc lủi mà hơn 20 năm trước đã từng uống: Thơm sực mùi rượu gạo nếp, khi đi vào cổ họng chỉ hơi nóng nhưng không cảm thấy sốc, rát cổ, rồi khi vào tới dạ dầy, thì nóng dần lên, mạch máu chạy rần rật, tâm trạng phấn khích hẳn lên. Tôi cứ nhấp môi… nhấp môi… thoáng cái – chừng dăm phút – li đã vơi đi một nửa.

Cũng vừa lúc bát cháo tim, gan, bồ dục đã được đặt lên bàn. Chưa xúc ăn mùi cải cúc, tía tô, hạt tiêu và mùi chín thơm của gan, bồ dục, tim – các bộ phận đặc biệt của cỗ lòng lợn – đã nức hương. Trên mặt bát cháo bốc khói. Sờ tay vào thành bát – nóng ran. Dùng thìa đảo cháo từ trên xuống dưới, xúc miếng gan đưa vào miệng nhai: Gan mềm, nước ngọt đậm từ míêng gan tứa ra, xúc tiếp miếng bồ dục rồi cải cúc, nhai thấy thơm dòn… Tim, Gan, Bồ dục nấu cháo mới có được hương vị nguyên chất vì những miếng sắt ra đã được hấp chín trong lớp vỏ bọc của bột gạo nhiệt lượng cao (1), không mất nước, không qúa chín thành dai…

Đang tập trung tận hưởng, cảm nhận hương vị của bát cháo, bỗng tiếng bạn vang lên: Xin lỗi. Mình đang bận chút việc, các em thông báo nhưng chưa ra tiếp ông! Thế nào, bát này chất lượng đã bằng cháo của bà béo ở phố Trân Nhân Tông chưa?

Bạn nhắc lại kỉ niệm: Hơn hai mươi năm trước, sau khi lĩnh lương tháng, hai chúng tôi thường rủ nhau đi ăn đêm ở cửa hàng cháo tim gan, bồ dục của bà hàng người to béo mà khách ăn thường gọi tắt: Qúan bà béo!

Bây giờ lại đưọc ăn, tôi không còn có điểm chuẩn để so sánh vì hai bát cháo cách xa nhau gần 30 năm – đều có nguyên liệu như nhau, được chế biến theo cùng một quy trình. Nhưng hơn 30 năm trước mặt bằng kinh tế của đất nước còn kém, toàn dân đói, chỉ khi có tiền mới được ăn nên thấy ngon, mức độ ngon dường như cao hơn. Còn bây giờ, ở đây – cuộc sống dư dả, muốn ăn lúc nào cũng được, tiếc, lại không có ai bán. Tuy nhiên, có sự khác nhau dễ nhận ra: Gạo nấu cháo bây giờ là của Thái Lan, mùi cháo thơm hơn hẳn! Nước cháo cũng ngọt đậm đà hơn có lẽ do nưóc sườn lợn, gà gìa nguyên chất mà ở bên này các nguyên liệu đó rất rẻ, không cần dùng qúa liều bột ngọt để chiêu dụ khẩu vị của người ăn…

Thấy tôi vẫn chưa trả lời, bạn nhắc lại: Cháo đạt yêu cầu chứ?

- Tuyệt vời – tôi nói nhanh trước khi nuốt miến gan bùi, ngậy….

- Như vậy tôi yên tâm rồi.

- Thế còn những món dân dã – đặc sản khác – ông có bán không?

- Trong số hàng mấy chục loại, tôi chỉ chọn mỗi loại vài món chứ sức đâu mà giăng ra. Vả lại cũng không nên đưa ra nhiều món sẽ loãng. Mặt khác, có muốn cũng không làm được vì quy định vệ sinh thực phẩm ràng buộc. 5 loại cháo chỉ chọn nấu 4 loại: cháo lòng, cháo sườn, cháo tim gan, cháo gà . 5 loại phở cũng chỉ bán phở chín, phở xào mềm. Bánh cuốn chỉ làm 2 loại nhân thịt và bánh chay ăn vói chả quế, giò luạ. Dưòng như để cho tôi ăn, không phải trả lời… bạn tiếp:

Bún cũng vậy, chỉ làm bún chả Nem (chả giò), chả nướng. Tóm lại, tôi thực hiện triệt để nguyên tắc: Qúy hồ tinh bất qúy hồ đa…

- Đúng là phương châm làm ăn của giới thương gia trong thời cạnh tranh gay gắt! Làm sao ông có được ’’vốn – các món’’ – này?

- Tôi phải về bên nhà học tại những lò nấu ăn có đẳng cấp trước khi triển khai công việc . Thời buổi này làm ăn nhất định phải chuyên nghiệp. Sản phẩm làm ra phải đạt chất lượng cao giá thành hạ để khai thác tối đa thị hiếu của khách hàng. Không gì bằng món ăn đậm đà chất dân tộc. Món ngon đích thực của tôi sẽ đáp ứng được sở thích của họ. Ngừng lại, bạn nhìn tôi vẻ thăm dò,chậm rãi : Biết ông rất sành ăn, muốn nhờ ông nếm thử lần lượt gần 20 món rồi phát biểu, góp ý. Tôi biết dù thế nào, cũng phải có điều chỉnh để hợp khẩu vị của dân Đức – thí dụ độ cay, độ chua, nước mắm – chẳng hạn. Tôi tin cậy trình độ thẩm định của ông lắm. Xin tặng ông danh hiệu ‘’Cái lưỡi vàng’’ của giới Ẩm thực Việt ở thành phố này!

- Ông ca tụng tôi hơi qúa. Dù vậy vẫn khoái. Có điều, chỉ phong danh hiệu ‘’suông’’ chưa đủ. Ông hãy hào phóng hơn: Phải có phong ‘’bao’’ – vật chất – đi kèm mới tăng gía trị của sự suy tôn lên!

Sợ Bạn hiểu lầm, tôi tiếp ngay: Với tôi, không cần phải phong bao như người đời vẫn làm… Tôi chỉ xin ông hướng dẫn quy trình nấu cháo để khi thèm ăn, tự làm, không phải đến đây quấy rầy.

- Riêng ông thì ôkê. Bạn vừa nhấp li rượu cậu phục vụ mang đến, tiếp: Gọi là cháo nên nguyên liệu, quy trình chế bién cháo rất quan trọng. Trước hết cho gạo tẻ, thơm – vào nồi nấu thành cơm nhão. Gạo đã chín, xúc ra nồi khác, dùng muôi đánh cho nát, cọ rửa sạch nồi nấu kia cho hết khê, cháy, đổ nước đun sôi, cho cơm nhuyễn vào, tiếp tục quấy đều cho sôi thành loại bột sền sệt, laị đổ ra nồi khác.

- Ninh sườn lợn, gà gìa – lấy nước đủ dùng cho số cháo bán trong ngày. Tim, gan, bồ dục phải tươi (tốt nhất lấy từ lợn giết trong ngày), bồ dục bổ tư, bỏ phần lõi, đem ướp gia vị, từng thứ, để riêng.

- Cho vào đáy bát đựng cháo rau cải cúc, tía tô,  lòng đỏ trứng gà (nếu muốn ăn).

- Tăng Gas cho lửa cháy to, lấy nồi tùy theo to nhỏ cho 1 hay nhiều người ăn, (không qúa 4 người mỗi lần nấu). Múc nước xuơng và cháo trộn lẫn, quấy đến khi sôi, cho tim gan, bồ dục vào, chừng 1 phút, đổ vào bát, rắc hạt tiêu lên trên (nếu thích ăn cho thêm mùi ta, mùi tầu, húng bạc hà) và thế là ông đã có bát cháo đúng như bát ông vừa ăn…

Còn đang định nói về cách nấu cháo gà, cháo lòng, một nhân viên báo cáo có nhóm nhạc Đồng Quê đến bàn việc tổ chức cho sàn nhẩy vào tối mai thứ 7, Bạn xin lỗi hối hả đi ngay.

Còn lại một mình tôi vừa nhâm nhi, vừa suy nghĩ: Trong khi một số người mở nhà hàng ăn uống, sợ thất bại – đã mượn chiêu bài China Resstaurant làm chỗ dựa. Nhưng rồi vẫn phải bán đổ bán tháo cửa hàng, chịu lỗ vì không có khách ăn. Nguyên nhân chính: Đầu bếp không chuyên nghiệp, nấu không ngon, món không ra Tầu, chẳng ra Ta nên thất bại. Cho dù chính hiệu China nhưng mãi không thay đổi cũng làm khách hàng sành ăn chán nữa là thương hiệu rởm, đầu bếp tay nghề kém, món lai tạp hổ lốn…

Bạn tôi đã suy nghĩ mãi về vấn đề này trước khi đưa ra mô hình: Chọn món ăn truyền thống dân tộc – thuần Việt đẻ kinh doanh. Đối với dân ta là cũ, nhưng đối với khách hàng ở Đức lại chính là món mới về mọi phương diên: Tên gọi, nguyên liệu chế biến, quy trình gia công, gia vị để cuối cùng tạo hương vị đặc sắc của món ăn mà họ chưa từng biết đến…

Hình thức, cấu trúc của cửa hàng, mục tiêu, nội dung phục vụ cùng sản phẩm tung ra, kết qủa cuối cùng là món ngon, lạ miệng, gía cả phải chăng – đã chinh phục được khách hàng khó tính!

Điều cơ bản đáp ứng được sở thích của họ: Muốn thưởng thức món ăn thuần khiết, cổ truyền của những sắc dân đang hiện diện trên nước Đức, mà không tốn tiền đi du lịch đến tận quốc gia kia. Vì vậy qúan Hoa Nhài của bạn mở ra, khách hàng đọc Card Menu, xem quảng cáo trên mạng… tìm đến ăn thử, thấy đúng cho nên quán đã đứng vững, phát triển, cho dù sinh sau đẻ muộn…

Thời đại của các doanh nghiệp tồn tại trên sự cạnh tranh. Không có bản lĩnh, cái đầu không phát huy hết tác dụng của bộ não, cứ lười nhác dựa dẫm, cóp nhặt của người rồi làm ăn theo kiểu chụp giật – sẽ không thể tồn tại được ở thời đại này.

Qúan ăn mang tên Hoa Nhài của bạn tôi là một minh chứng xác thực!

Berlin – 20.10.2011

LXQ

 

(1) – Nước tinh khiết sôi nhiệt độ 100 độ C. Nước có tạp chất, đặc biệt là Cháo, khi sôi nhiệt độ tăng hơn. Bởi vậy những người bị bỏng cháo rất nguy hiểm, da chổ bị bỏng sẽ lột hết…

 ***

RƯỢU CUỐC LỦI:

Theo lệ thường, cứ đầu tuần, tôi đến Hoa Nhài trao đổi việc quảng cáo rồi thông báo số lượng khách đặt tiệc cho những ngày cuối tuần để nhà hàng chuẩn bị. Công việc xong, bạn – ông chủ quan –  mời Rượu Cuốc Lủi, nhần mạnh: ’’tự tay tôi nấu từ gạo nếp cái Hoa vàng mua từ cửa hàng thực phẩm châu Á, các huynh uống thử’’.

’’Vương quốc Lúa Nước’’, chẳng những thức ăn nuôi sống cư dân là Gạo và ngũ Cốc. Thức uống hảo hạng – Rượu – cũng được chưng cất từ gạo Nếp – thứ gạo có nhiều đường, dân ta thường dùng để nấu xôi, cúng lễ thần linh, tổ tiên. Gạo Nếp có từ rất lâu đời, cách đây hàng nghìn năm ghi trong dã sử, truyền thuyết: Bánh chưng – Bánh dầy.

Có món nhắm ngon, không có rượu – món ngon mất hấp dẫn. Rượu kích thích dịch vị tiêu hóa – ăn cảm thấy ngon hơn. Vì vậy, trong bất cứ bữa liên hoan, ăn tươi, tiệc chiêu đãi nào cũng phải có rượu (…).

Trên hành tinh này, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có rượu, nấu từ những nguyên liệu đặc trưng của đất nước mình. Dân Việt nấu rượu từ ngũ cốc (…), nhưng đặc biệt nấu, cất bằng gạo nếp thơm (nếp Cẩm, nếp cái hoa Vàng…) – sẽ cho thứ rượu có thể coi là ’’quốc hồn, quốc túy’’ của dân Việt (1).

Ở miền Bắc, Rượu Cuốc Lủi làm tử gạp nếp, chưng cất bằng phương pháp thủ công.  Dù đã nếm thử một số rượu ngon, qúy của thiên hạ – tất nhiên đắt gấp hàng chục lần so với Cuốc Lủi của ta – tôi vẫn cho rằng Cuốc Lủi – nếu là loại cực phẩm – 10 kílô nếp cái hoa vàng chỉ lấy 3 lít, (nồng độ đạt tới trên 50 độ rượu) – ngon hơn bởi đậm hương vị gạo nếp thơm, dịu, uống nhiều không nhức đầu mệt mỏi, không sốc đến độ muốn’’quậy phá’’… chỉ say, mê xỉu đi, tỉnh dậy cơ thể thêm sảng khoái.

Cuốc Lủi còn để ngâm: Rắn (tam, ngũ xà), các loại Cao (Hổ cốt, Khỉ, nhung Hươu, Mật gấu…), các loại thảo mộc qúy (nhân Sâm, Hà thủ ô, Tam thất…) – sẽ chữa được nhiều bệnh, tăng lực cho những người yêu thích, có nhu cầu…

Riêng Cuốc lủi hạng 1 ngâm với Tắc kè, Hải Mã, nhân Sâm – theo dân gian uống vào sẽ cường dương, tráng khí. Còn theo những ‘’hiệp sĩ chăn gối’’ thì… Tuyệt đỉnh dai sức, tăng khoái cảm!  

- Sao lại có tên Cuốc Lủi? Nghe ngồ ngộ – Tôi hỏi?

Bạn lặng lẽ nhìn tôi, trấm ngâm: Theo một ’’sâu rượu’’: Tên Rượu Cuốc Lủi ra đời từ hơn 70 năm trước. Thơì đó thực dân Pháp cấm dân ta nấu rượu. Nếu phát hiện ai nấu lậu, kẻ xấu số bị bắt đi tù ngay. Dân muôn uống rượu, phải ra ngoài đồng hay những nơi có bụi rậm để chưng cất. mùi tượu khuyếh tán, tan nhanh. Nếu không may bọn Tây đoan truy lùng, khám xét, bà con ta đem dấu trong bờ bụi để phi tang. Dấu – nghĩa là ’’lủi’’ – nhanh như con Cuốc khi nhìn thấy người, sợ sẽ bị Người bắt đem chúng xáo măng như đối với Cò. (2).

Tên Rượu Cuốc Lủi bắt đầu xuất hiện từ đây.

Hơn 20 năm sau – vào giữa những năm sáu mươi của thế kỷ 20 (cách đây hơn 40 năm), Rượu Cuốc Lủi lại bùng phát ’’tái xuất giang hồ’’ bới do nền kinh tế của đất nước thời đó rất nghèo, dân đói triền miên, cả miền Bắc trong hoàn cảnh ’’Hạt gạo chia ba’’(3). Một vài vị trong cơ quan quản lý lương thực đề xuất: Cấm nấu rượu sẽ tiết kiệm được khối lượng lớn gạo – tiêu phí, phục vụ cho nhu cầu ’’xa xỉ’’.

Tóm lại : Cấm nấu rượu vì thiếu gạo ăn. 

Dù đã có rất nhiều chỉ thị, nghị quyết, hội nghị, nhiều cuộc vận động… Năng xuất lúa vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí thụt lùi  Mỗi Hecta ruộng cố sức mỗi năm cũng chỉ thu được 3 tấn thóc. Còn 5 tấn/hecta là niềm mơ ước. Hậu qủa là kinh tế Nông nghiẹp suy sụp, dân đói, kéo theo nhiều hệ lụy… Các nhà lãnh đạo thời đó lúng túng không tìm ra lối thoát, trong khi lại dị ứng với loại kinh tế cá thể, mà trên thực tế, người nông dân mong muốn thực sự ’’Người cầy có ruộng’’, hay ít ra họ phải cảm thấy ruộng là của mình, mới phát huy hết tiềm năng để tăng năng xuất lúa, làm ra nhiều thóc gạo phục vụ xã hội…

Trước tình hình nan giải, khắc nghiệt giữa lý thuyêt và thực tế, ông Kim Ngọc – bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú (bây giờ chia thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ) – đã đề xuất một phương thức canh tác mới trong nông nghiệp: Khóan sản phẩm cho Nông dân. Nội dung chủ yếu của chủ trương này là: Giao ruộng đất cho Nông dân tự chủ sản xuất, thu hoạch, tiêu dùng, nhà nước đóng vai trò giúp đỡ, thu thuế đủ thóc theo kế hoạch, đáp ứng nhu cầu, đảm bảo sự phát triển kinh tế, đời sống của nhân dân trong hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh.

Trước khi công bố luận thuyết của mình, ông Kim Ngọc đã lặng lẽ cho mấy xã của huyện Vĩnh Tường – huyện trọng điểm lúa của tỉnh – làm thử. kết qủa rất khả quan. (sau này nông dân gọi vui là ’’Khoán chui (lủi)’’. Có điều: Phương thức sản xuất này sẽ làm lu mờ, đi đến xóa bỏ Hợp tác xã nông nghiệp (bây giờ thì đã rõ). Làm gì thì làm nhưng thời điểm đó, bỏ HTX nông nghiệp – không được!  Thế là ’’tai hoạ’’ ập xuống đầu con người qúa thông minh, có tâm huyết với dân với nước ’’cầm đèn chạy trước… thời đại’’.

Cái mới manh nha nhưng bị tư duy cũ cùng hoàn cảnh của thời đại ngăn trở. Ông Kim Ngọc – nhà cách tân hàng đầu của Đảng Lao Động Việt Nam trong lĩnh vực Nông nghiệp (sau 1976 đổi tên thành ĐCSVN), bị chỉ trích kịch liệt. Gay gắt nhất: Nhà Lí luận hàng đầu của Đảng – viết bài cho đăng trên tạp chí Học tập (4) – cơ quan lí luận của Đảng – phê phán ông Kim Ngọc ,, ghép cho tội: Muốn đi ngược lại chủ trương đường lối chính trị của Đảng, dung dưỡng đường lối kinh tế tư bản…. Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc bị mất chức, về vườn, rồi chết trong đau buồn, uất ức… (5)

Khoảng gần 20 năm sau (1986), Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có nghị quyết về Nông nghiệp số 10 – Nông dân gọi tắt là Khóan 10. Từ một nước Nông nghiệp lạc hậu, vừa ra khỏi chiến tranh, không nuôi nổi mình, các vị lãnh đạo hàng năm phải ’’vác rá, đeo bị gậy’’, ngửa tay đi xin các nước bạn trong phe XHCN : Bột mì, hạt lúa mạch, sữa bột (dùng cho chăn nuôi gia súc) – về cho dân ăn, cứu đói. Thế mà chỉ một thay đổi chút ít trong đường lối kinh tế, Việt Nam đã bứt phá thật ngoạn mục, đi lên, trở thành nước xuất khẩu gạo có thư hạng trong nhóm các nước châu Á có gạo xuất khẩu. Ý tưởng của ông Kim Ngọc do nhiều nguyên nhân, hoàn cảnh… phải thực hiện chậm lại gần 20 năm.

Đó là một khúc quanh của lịch sử…

Tiếc thay!

Thời đó, bất cứ cá nhân nào không theo lối mòn đã vạch sẵn, nói lời ’’hơi’’ đi ra ngoài khuôn mẫu đều bị xếp vào nhóm ’’tư tưởng có vấn đề’’, thậm chí – ’’chống Đảng’’. Người ta không cần xem xét ’’ý kiến trái tai’’, cứ phủ định, dập tắt, thay vì phải nghiên cứu, tìm cách giải phóng cho nông dân khỏi sự ức chế, để huy động tối đa tiềm năng khiến họ chăm chỉ, cần mẫn tăng năng xuất lúa. Ngược lại hội chẩn sai -  không trị bệnh trong ’’tâm can’’ mà lại đi chữa ’’ngoài da’’: Cấm chợ ngăn sông, cấm lưu thông lúa gạo, không được chế biến, làm thức ăn từ gạo như: Bún, Phở, Bánh trái…

Nghiêm khắc, triệt để nhất: Cấm dùng gạo nấu rượu! 

Muốn thực hiện được mục tiêu ’’Có gạo’’, các cấp chính quyền ở cơ sở qúan triệt tinh thấn cấm rượu, coi , buôn bán rượu là phạm pháp.

Dân nghiện buộc phải ’’cai’’ rượu!

Cán bộ công nhân viên, tết nhất, năm thì mười họa, gia đình đông người mới được mua phân phối một chai rượu trắng hiệu Lúa Mới của Quốc doanh, nấu bằng mía đường, ngô, khoai, sắn – pha cồn thực phẩm, hoặc một chai rượu Màu – hương chanh, cam, dứa – sặc sụa mùi cồn công nghiệp.

Nhưng Rượu là thứ đã tồn tại trong lòng dân Việt hàng nghìn đời, không lệnh nào có thể cấm được. Thế là – Nhà nước cấm cứ cấm, cứ bắt ! Dân nấu cứ nấu, bán cho nhau. Rượu Cuốc Lủi được phục hồi, tiếp tục phát triển. Nó mang ý nghĩa được nấu, bán ’’chui, lủi’’, rồi người dùng và cả xã hội chấp nhận như là ’’Thương hiệu’’ có sức thuyết phục. Khi xưa Cuốc Lủi, lủi trốn Tây đoan, còn bây giờ Cuốc Lủi trốn Chính quyền (Thuế vụ – Tài chính). Cụm danh từ gợi cho người nghe hình ảnh con Cuốc bé nhỏ khi gặp người, sợ bị hại – Cuốc ’’lủi – trốn’’ rất nhanh vào bụi rậm.

’’Cuốc Lủi’’ tồn tại cùng Quốc Doanh, thách thức Quốc Doanh – về chất lượng! Đến nỗi, suốt vài thập kỉ, nhất là từ cuối những năm sáu mươi, cả những  năm bẩy mươi, tám mươi – hàng ngày, từ 5 cửa ô của Hà Nội, dăm ba trăm người trên xe khách, xe thồ, xich lô, xe đạp, cắp nách, xách tay, dấu dấu diếm diếm – từng chai (nút lá chuối khô), từng can nhựa, từng chiếc bong bóng trâu (1*) trong đựng Cuốc Lủi – mang vào cung cấp cho dân Hà Thành. Nếu không có nguồn rượu lậu vào phục vụ các đệ tử Lưu linh đất nghìn năm văn vật, (vốn đã quen, nghiện dùng rượu) – sự thể sẽ ra sao ?

Người buôn lậu rựơu cũng chỉ lấy công làm lãi, bất chấp mạo hiểm (khi vận chuyển), cố kiếm chút lời về bù đắp cho cuộc sống thiếu thốn của gia đình mình. Trong một bài viết của nhà văn Phùng Qúan kể chuyện Thi sĩ Hoàng Cầm lúc cuộc đời bi đát nhất (…) đã từng nấu rượu lậu ngay tại nhà và đã bị chính quyền Tiểu khu – (Phường)…’’cảnh cáo’’!

Hà Nội lúc bấy giờ có khoảng hơn nửa triệu dân, với hàng chục nghìn người có nhu cầu dùng rượu. Đặc biệt dân Đình Bảng, Từ Sơn, Vân Hà (nay thuộc Bắc Ninh) – Lò Cuốc Lủi khổng lồ – và cả những xã ven đô ngày đêm kìn kìn mang Cuốc Lủi vào cung cấp cho những cái dạ dầy đang bị cơn khát rượu dầy vò…

Chỉ cái tên Cuốc Lủi, bạn đã diễn giải tỉ mỉ hoàn cảnh xuất xứ của một thương hiệu ra đời từ một thời kì lịch sử. Tôi thoả mãn tìm hiểu, quay trở lại mục đích chính, hỏi: Tại đây – nước Đức, ông có thể tự sản xuất được thứ rượu ngon này rồi bán cho những người ’’yêu Cuốc Lủi’’ như tôi không? Tôi ao ước Cuốc Lủi được sản xuất theo đúng quy trình của dân gian. Nếu làm được như vậy, nó sẽ là thứ rượu làm vang danh đất Việt như rượu của vùng Boóc đô (Pháp) Vodka Gorbachop (Nga) hay các thương hiệu rượu nổi tiếng của những cường quốc Rượu?

- Ý kiến ông rất hay và rất trúng. Nhưng chưa thể làm được. Tôi chỉ cất mỗi tháng vài chục lít để uống và tặng bạn bè. Muốn bán phải được nước Đức cho phép. Hàng nhập khẩu phải được Đức kiểm nghiệm đóng dấu KCS, nộp thuế. Bán chui, nấu chui để kinh doanh là phạm pháp, sẽ bị phạt đến sạt nghiệp ngay.

Ngừng lại một chút, bạn tợp… hớp… khà -  đoạn mới tiếp: Tôi đang tiến hành liên kết với một số cơ sở chưng cất rượu thủ công ở mấy làng nghề nâu rượu truyền thống bên nhà để sản xuất Cuốc Lủi rồi xin phép đưa vào Đức. Nhưng theo thói quen ’’cổ truyền’’ làm ăn nhỏ của dân ta, xem ra ý tưởng này khó mà thực hiện được.  

- Tin rằng với khả năng của ông, nhất định sẽ được. Tuy nhiên xin nhắc: Người Việt ta  nói chung, ít chú ý đến chữ tín trong kinh doanh. Cứ vài mã hàng đầu tiên, bao giờ cũng đảm bảo chất lượng, rồi sau đó thì thụt lùi một cách rất tệ hại…. Thế là dù có ’’yêu nước’’ đến mấy, cũng đành ’’chào’’ !

Bạn ngắt lời ngay: Tôi là người hiểu rõ vấn đề này hơn ai hết vì đã từng là nạn nhân của tệ nạn ăn gian, làm dối của các lái buôn vô lương. Tất nhiên cái chính là vấn đề kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS). Không thể tin được lời hứa hẹn của đám thủ lĩnh lái buôn, trong mắu đậm đặc chất ’’Gà què ăn quẩn cối xay’’. Nhất định phải được người có kinh nghiệm, có kĩ thuật nghiệm thu bằng thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn của EU trươc khi đóng chai, chuyển đi.

Không phải chủ hàng nào cũng làm ăn chụp, giật gian dối. Do không có kiến thức kinh doanh, không hiểu luật chơi khi đã gia nhập WTO, họ cũng bị cấp dưới, công nhân của mình lừa đến nỗi phải gánh hậu qủa oan, Trong thâm tâm, chủ hàng cũng muốn cố gắng thực hiện đảm bảo hàng chất lượng. Bởi vì 1 lít rượu đúng chất lượng, tôi có thể mua với gía gấp 5 so với bán trên thị trường trong nước. Mất hợp đồng là ’’đói’’!

- Cuốc Lủi của ta ngon là vậy, sao – khi chiêu đãi các nguyên thủ Quốc gia đến họp thượng đĩnh APEC, bộ phận lễ tân lại đi chọn rươụ vang Đà Lạt? Ta đâu có nhiều Nho, trình độ chưng cất, uy tín của thương hiệu rượu Vang Đà lạt là cái gì mà đãi khách qúy – tôi ngắt lời bạn, hỏi.

- Chịu! Chắc có nguyên nhân riêng… Đã có nhiều người thắc mắc như ông mà không có lời giải đáp. Theo tôi, người đề xuất có thể do không có kiến thức về rượu, sính ngoại, coi thường vốn qúy cổ truyền của dân tộc. Cũng có thể họ đặt lợi ích cá nhân , lợi ích của nhóm mình lên trên lợi ích Quốc gia nên đưa ra ý kiến này hòng kiếm chút lễ mọn của tay cò mồi… Vang ngon, nổi tiếng là loại được cất từ Nho. Cả châu Âu đều trồng được Nho nên đều sản xuất được Vang. Nhưng chỉ có Vang Ý, Pháp – nấu từ Nho của một vài vùng của nước họ rồi với kinh nghiệm chưng cất hàng trăm năm mới có được thứ rượu xứng danh hảo hạng, khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Đà Lạt của ta  đâu có Nho, quy trình công nghệ, kinh nghiệm sản xuất kém – làm sao có Vang ngon. Sao lại không chọn Rượu Cuốc Lủi – ’’quốc hồn, quốc túy’’ của vương quốc lúa nước – Việt Nam mà chiêu đãi ’’tiến’’ các ’’Vua APEC’’?

Các vị khách này hầu như được thết đãi các loại rượu qúy mỗi khi đến làm khách các quốc gia khác. Giờ đến Việt Nam, lại phải ’’nhấp môi’’ thứ rượu vang ’’Rởm’’, liệu họ sẽ có phản cảm gì về đất nước xuất khẩu nhiều sản phẩm dùng cho Ăn – Uống, đặc biệt là Gạo? (6)

Tiếc thay chúng ta đã để lỡ cơ hội quảng bá một thương hiệu rượu đặc trưng của Việt Nam – đến các vị ’’Thủ lĩnh – Lái buôn’’  – thương thặng!

- Vậy bao giờ chúng tôi có thể đàng hoàng mua Cuốc Lủi của ông? Nếu có, tôi đề nghị ông hãy cứ giữ tên CUỐC LỦI do dân Việt đặt – thương hiệu đã ghi dấu ấn sâu đậm của dân tộc trong giai đoạn lịch sử. Khi nào nó mới có thể hiện diện trên các kệ hàng của nước Đức, của EU như X.O, Uýtxki, Napoléon, Remi Martin?…

- Với cung cách làm ăn như thế này, không thể nhanh được, xin các vị hãy kiên nhẫn chờ!

Berlin : 10.04.2008 – 25.10.2010

LXQ

(1*) – Bong bóng (bọng đái) con trâu tẩy sạch, đem phơi khô dùng để chứa rượu rất tốt, dễ vận chuyển lại dai bền không sợ thủng.

(1) Phía Nam cũng có Rượu như Cuốc lủi – tên là Rượu Đế. Theo dư luận, Rượu Đế – cũng chưng cất từ gạo và có tên xuất xứ tương tự như Cuốc Lủi…

(2) Lấy ý của bài ca dao: Con cò mà đi ăn đêm/Đậu phải cành mền lộn cổ xuống ao… ông nỡ lòng nào đem tôi xáo măng…

(3) Danh từ minh hoạ cho câu ’’Thắt lưng buộc bụng’’ – ý nói chịu gian khổ để chi viện cho công cuộc thống nhật đất nước. Hạt gạo chia ba là chi viên cho 3 chiến trường: Miền Bắc, Miền Nam, Lào – Miên.

(4) Hiện nay đổi tên thành Tạp chí Cộng sản. Người viết bài này là ông Trường Chinh lúc đó là chủ tịch Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, nhà lí luận hàng đầu của đảng LĐVN.

(5). Nhà văn Hoàng Hữu Các có bài ký viết về ông Kim Ngọc khi ông đã mất – đăng trên báo Văn Nghệ, đọc rất hay, xúc động. Vì đã lâu nên không nhớ chính xác tựa đề… hình như: Tiếng vọng của Đất!

(6) Nghe đâu, các trưởng đoàn tùy tùng của các nguyên thủ quôc gia, sau khi nếm thử Vang Đà Lạt, họ ’’nhăn mặt’’ – yêu cầu đổi ngay sang dùng Vang Pháp, Vang Ý…

Kỳ sau: BÚN CHẢ NEM – CHẢ CHÓ

NGÀY XUÂN, CÙNG LÊ XUÂN QUANG – MỘT NGƯỜI CON XA TỔ QUỐC BÀN ĐÔI ĐIỀU VỀ MIẾNG NGON QUÊ NHÀ

MIẾNG NGON QUÊ NHÀ

Món Nướng : Cá , Lợn sữa -

Lê Xuân Quang (Berlin)

Các món ăn dân dã của ta không thể viết, nói tóm tắt trong dăm ba trăm trang sách. Bởi, mỗi nơi trên đất Việt đều có những đặc sản riêng. Lấy Hà nội – đất nghìn năm văn vật, nơi tập trung những tinh hoa của đất Việt – mà nói : Thứ nào ngon nhất của các địa phương đều được mang đến quảng bá, giới thiệu . Chỉ kể vài món làm thí dụ: Chả cá Lã vọng (làm bằng cá Lăng), Phở – Nam Định, Canh bánh đa – Hải phòng, Bún thang, bánh đậu xanh – Hải Dưong. Bánh gai Ninh Giang – Hưng Yên… ’’Húng Láng – Tương Bần – Nước mắm Vạn Vân – Cá rô đầm sét’’ vân vân và v.v…

Hoa qủa thì có: Chuối Ngự Hà Nam (tiến vua), nhãn Lồng – Hưng Yên , vải Thiều Hải Dương, mận Mẫu Sơn, hồng Hạc Trì, bưởi Đoan Hùng, chè móc câu Thái Nguyên… sau 1975 có các đặc sản phưong Nam : Xoài cát, Sầu riêng, măng cụt, bưởi Năm roi, Thanh long và còn rất nhiều thứ khác nữa…

Tôi là người Nam Định – một địa phương không chỉ sản sinh ra những danh nhân văn hóa, khoa bảng, vua quan (từ cổ chí kim…) mà còn có nhiều đặc sản và các món ngon, qúy hiếm, lừng danh cả nước. Hồi mới thống nhất, năm 1978 – tôi vào Sài gòn, đi trên đường phố luôn bắt gặp 2 bảng hiệu: ’’Thịt cầy 7 món’’, ’’Phở Bắc’’ – 2 món này có xuất xứ từ Nam Định. Thế nhưng nếu kể ra còn nhiều món khác (tôi đã và sẽ kể dần). Bài viết này xin giới thiệu một đặc sản độc đáo: Cá và lợn sữa nướng bằng vỏ trấu!

Ngay từ thời xã hội loài người còn hoang sơ – mọi dân tộc trên hành tinh đều biết dùng lửa nướng chín thức ăn . Cách nướng nguyên thủy – còn truyền đến bây giờ, là: Đốt đống lửa, xâu vật cần nướng (gà, thỏ…) vào cây que (gỗ, sắt) rồi hơ trên ngọn lửa, xoay đi lại cho chín đều, hoặc cho trực tiếp vào đống than hồng… Thịt, vật nướng ăn rất thơm, ngon.

Dân Nam Định có cách nướng hơi khác (trừ thui chó, nướng chim). Họ làm sạch con vật, ướp muối và gia vị, lấy lá chuối xanh, tươi – rải xuống đất, đặt con vật cần nướng lên trên, lấy nồi đất (hoặc nồi gang) úp kín, đổ trấu (vỏ của hạt thóc sau khi xay, sàng – thải ra) – trùm lên rồi đốt lửa. Trấu chắy âm ỉ, sau dăm ba giờ (tùy theo vật nướng), tắt lửa, bới tro, con vật nướng chín trong hơi nóng, ảm mùi thơm của trấu cháy. Cách nướng này, dân Nam Định gọi là ’’ủ đống rấm’’!

Thịt nướng kiểu ủ đống rấm ngon vô cùng. Ngon không thể miêu tả bằng lời, chỉ có thể tóm tát: Thơm mùi thịt ướp hương vị không bị mất hơi, được mùi thơm của trấu chắy thẩm thấu, ảm vào – tạo cho người ăn cảm giác: Nuốt vào đến đâu, thấy ngon, khoái khẩu, biết mùi vị thịt nướng – đến đó!

Tôi nhớ lại những lần gần tết – vào ngày 20 – 21 tháng chạp – trước ngày 23 ông táo lên chầu trời. Bố thuê người tát ao nhà, với thỏa thuận: Những con cá chép từ 2 kílô trở lên, người tát thuê không được chia, còn lại tất cả cá tôm chia đôi mỗi bên một nửa. Trong số những con cá chép to nhất, bố để nguyên con, đem nướng chín cúng ông táo (…). Cách nướng như đã nói ở trên.

Con cá chép nướng xong, đặt lên đĩa.

Chúng tôi vây quanh bố trầm trồ sít xoa… đứa nào cũng nuốt nước bọt ’’ừng ực’’ bởi mùi thơm của cá bộc lên ngào ngạt. Cũng may, bố nhớ đến lũ trẻ nên đặt cạnh con chép to là vài con chép con bọc thêm lá chuối (chống cháy). Chúng tôi hău hắu nhìn. Bố cười bảo: Các con không được ’’hỗn’’, để bố cúng ông Táo, thắp hương chắy tàn, xong – mới được ăn . Dù thèm ’’rỏ rãi’’, chúng tôi đành tiu nghỉu lảng ra sân đốt pháo.

Lúc dọn cơm, cả 3 anh em được mẹ gắp chia cho miếng lườn toàn thịt nạc (chỗ ngon nhất) đầu, bụng bố mẹ ăn. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ con cá chép nướng 2 kí lô kia: Vẩy, vây, đuôi vẫn còn nguyên nhưng gắp đưa lên miệng, nhai dòn tan. Thịt của cá không nhão mà hơi dai, phải nhai kĩ, càng nhai chất ngọt, bùi của thịt cá tứa ra rồi nuốt mới thật đã – Chao! Tuyệt vời…

Sau này có dịp đi tứ xứ, tôi đã từng ăn đủ thứ cá đưọc các đầu bếp Việt, Tầu, Đức, Nga, Tiệp – chế biến thành món ăn. Tuy mỗi món cá do những đầu bếp tài ba chế biến, có hương vị đặc sắc riêng, nhưng không thể có món cá nào ngon bằng con chép nưóng theo kiểu ủ đống rấm – của miền quê Nam Định mà tôi đã từng được ăn!

Cũng cách nướng như vậy, chúng tôi còn được ăn lợn sữa (cả lợn bao tử). Món nướng này trở thành kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu, đã theo tôi trong suốt cuộc đời: Năm 1956 – 1957, dân quê tôi gặp trận đói. Trận đói này không khủng khiếp như trận đói năm 1945. Bấy giờ, tuy cũng đói nhưng vẫn còn cái ăn để cầm cự cho đến mùa gặt. Dân làng đều phải ăn cháo cám và những thứ có thể ăn độn được… Nhà tôi ăn 1 bữa cháo cám, còn bưa kia độn ngô khoai sắn. Vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Pháp, lại quây quần đêm ngày ’’mải mê’’ đấu tố nhau làm trễ nải việc đồng áng… Nhưng tôi nhớ rõ: Mùa đông năm 1956 – 1957 rất rét, điều đó đã góp phần làm lúa thất thu và nạn đói đã xẩy ra…

Người ăn cả cám của lợn nên nhà có con lợn nái (lợn nuôi để đẻ con) cám còn lại chỉ đủ cho nó cầm hơi. Tuy vậy con lợn vẫn sinh được 10 con. Bố mẹ nhìn lũ lợn con mới sinh còn đỏ hỏn, chưa mở mắt – trầm ngâm… chợt bố bảo mẹ: Không có cách nào nuôi chúng được. Có lẽ… có lẽ – bố ngập ngừng mãi mới thốt lên lời – giết thịt chúng thôi!

Mẹ hốt hoảng: Đừng, như thế tội nghiệp lắm!

- Nhưng nếu không, lũ con chúng vẫn sẽ chết, lúc đó vât đi hết, chi bằng giết thịt, con minh còn được mấy bữa ăn tươi.

Mẹ thương cảm mắt rớm lệ…

Bố biết ý giải thích: Theo nhà Phật, không được sát sinh. Giết lũ lợn còn đỏ hỏn lại càng không nên !

Đạo công gíao lại có cách lí giải : Thứ nào có trên mặt đất chính là Chúa Trời ban cho người ăn để sống. Trời sinh ra nó để nuôi con người, như vậy Chúa Trời cho phép ăn thịt sinh vật khác nên không sợ mang tội…

– Nhưng – Mẹ vẫn ngần ngừ…

- Phật cũng còn dậy: Giết, ăn thịt súc vất là hóa kiếp để nó đi đầu thai chuyển kiếp, giúp cho chúng được làm một kiếp sinh linh mới khá hơn. Nói đến đây, bố ngừng lại, giọng nhỏ dần: Vả lại trong hoàn cảnh bất khả kháng như bây giờ, đành phải chịu thôi.

Lý luận của bố đã thuyết phục được mẹ.

Thế là bố vao chuồng lợn, tiến đến chô lợn mẹ đang nằm – lũ con vẩn đang ngậm vú. Bố nhặt từng con bỏ vào chiếc thúng… chúng cọ quậy mồm ọ ẹ… Lợn mẹ – dù mới sinh đang nằm – chồm dậy xông vào tấn công ’’kẻ’’ mang con nó đi… Sự chống trả chỉ vô ích, nó chỉ còn biết lùi sát chân tường mồm hộc… hộc.

10 con lợn sữa được bố tiến hành đem nướng như quy trình nướng cá… Mấy giờ sau, chúng tôi được thưỏng thức món nướng ngon tuyệt, tôi có thể nói: Chưa có món thịt nướng nào ngon bằng!

Món thịt lợn sữa vừa hết, chú Khanh – em ruột bố – lại gọi sang nhà làm thịt con lợn nái, đang chửa, vì đói đã chết đột ngột… Chúng tôi lại tiếp tục được ăn thịt lợn bao tử , nướng – nghĩa là lũ lợn con hãy còn nằm trong bụng mẹ chưa ra đời . Lúc đó tuy còn nhỏ nhưng khi cắn, nhai thịt nướng, tôi vẫn có cảm gíac gai… gai trong dạ. Cho đến bây giờ – đã hơn nủa thế kỉ qua, bố mẹ đã về với tổ tiên – tôi vẫn nhớ lại khuôn mặt mẹ rơi lệ và lợn mẹ vùng vẫy tuyệt vọng giữ con…

Sau trận đói năm 56 – 57, tôi không bao giờ còn được nhìn, nghe dân làng nói đến việc giết lợn sữa hay lợn bao tử. Bởi vì người nông dân không đói, không đến bước đường cùng – không bao giờ chịu giết lợn con. Chỉ đơn giản: Nuôi lợn con vài tháng sau bán, sẽ lãi nhiều hơn nếu giết từ lúc mới đẻ….

Tuy vậy vẫn bán tin bán nghi. Thời bao cấp, mỗi khi Hợp tác xã cho phép các đội sản xuất giết lợn chia nhau để ăn têt, tôi lại chú ý nghe, xem… Bởi vì ấn tượng bố đem nướng lũ lợn con (…) vẫn đọng lại trong trí tưởng. Mùi vị của thịt lợn sữa nướng – theo cách ủ đống rấm – đã hằn sâu trong tiềm thức, trong tâm can dù lúc đó hãy còn là đứa bé dăm mười tuổi. Dù thời gian đã trôi đi hơn nửa thế kỉ, ấn tượng đó trong tôi vẫn không phai mờ…

Cho đến nay, sắp bước vào thế hệ ’’cổ lai hi’’ – mỗi khi nghĩ lại chuyện xưa… lời giải thích ’’đầy thuyết phục’’ của bố, hình ảnh mẹ… lại hiện ra rõ nét như cuốn phim quay chậm, tiếng nói của bố mẹ lại vang vọng trong tâm tưởng… nhất là hình ảnh lợn mẹ’’gào thét thất thanh’’, lao tới tấn công bố hòng giữ – bảo vê những đứa con, đỏ hỏn, mắt nhắm nghiền…

Chính lúc này lòng tôi lại trào dâng cảm giác nao nao… cổ tắc nghẹn…gai gai…

Berlin – 29 tháng chạp năm 2012

LXQ

 

Lê Xuân Quang: Thịt mỡ – Dưa hành CÂU ĐỐI TẾT (PHẦN CUỐI)

LỜI CHỦ BLOG: TRONG NHỮNG NGÀY QUA, BLOG “NQCC” ĐÃ GIỚI THIỆU 4 PHẦN BÀI SƯU TẦM VÀ KHẢO CỨU CÔNG PHU CỦA NHÀ VĂN LÊ XUÂN QUANG (HIỆN ĐANG SINH SỐNG Ở ĐỨC) VỀ CÂU ĐỐI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ. HÔM NAY, TRONG KHÔNG KHÍ NGÀY CẬN KỀ TẾT NHÂM THÌN, BẢN BLOG XIN VUI MỪNG CHUYỂN TIẾP ĐẾN QUÝ VỊ PHẦN CUỐI CÙNG CỦA BÀI VIẾT NÀY.  HY VỌNG SẼ GÓP VÀO “BỮA TIỆC TINH THẦN” NGÀY TẾT NHÂM THÌN CỦA QUÝ VỊ THÊM PHẦN PHONG PHÚ BỞI CHẤT VĂN CHƯƠNG THI VỊ CỦA BÀI VIẾT CŨNG NHƯ TÀI ĐỐI CHỮ VÀ CHẤT HÓM HỈNH, TRÀO PHÚNG CỦA NGHỆ THUẬT CÂU ĐỐI CỦA CHA ÔNG TA THỜI XƯA CŨNG NHƯ CỦA VĂN NHÂN THI SĨ VÀ NGƯỜI YÊU THỂ LOẠI CÂU ĐỐI THẾ HỆ HIỆN TẠI…

THT

PHẦN 4
PHẦN 2 + 3
PHẦN 1
CÂU ĐỐI THỜI HIỆN ĐẠI – 5 (Kết)

Lê Xuân Quang

Những năm cuối thế kỉ 19, bước vào thế kỉ 20, câu đối Việt đã trở thành loại hình phổ cập trong văn học dân gian và văn chương bác học. Rất nhiều trí thức – quan trường, văn nghệ sĩ , nhân dân thưởng thức, tham gia sáng tác. Trong đó phải kể những tên tuổi chói sáng trong lĩnh vực sáng tác câu đối: Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Tản Đà, Nguyễn Công Hoan … các vị đã đóng góp cho kho tàng văn học Việt những tác phẩm không kém gì những tập thơ, cuốn tiểu thuyết, bài biên khảo gía trị…

Đã có qúa nhiều ngưòi viết, nhiều cuốn sách viết về đề tài này mà điển hình là vào quý 2 năm 2006, nhà xuất bản Văn hóa thông tin đã cho ấn hành tuyển tập gồm 5000 Hoành phi – Câu đối. Trong bài viết nhỏ này chỉ xin nói về một số câu đối của một số ít nhà văn, các ’’hậu bối’’ đã có nhũng câu đối chẳng những không thua kém tiền nhân, ngược lại còn đắc dụng hơn vì đã ’’xông thẳng’’ vào các vấn đề’’gai góc, nhậy cảm’’ đang bức xúc cả thời đại…

 Trước hết, khảo sát câu đối của nhà thơ Chế Lan Viên (CLV):

Lúc sinh thời, Chế Lan Viên – Ngoài vai trò là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng – ông còn làm câu đối rất hay dù ít khi xuất hiện trên những trang báo xuân. Vào  những năm sáu mươi của thế kỉ 20, CLV từng nghe anh em  nhà văn, nhân viên làm việc ở Báo Văn nghệ phàn nàn: Nhà thơ N.Đ, dạo này thường phát biểu rất dài ’’tra tấn’’ anh em, mỗi khi hội họp. Lại thường trích dẫn Lép Tôxtôi (đại văn hào Sô viết)’’. Chê Lan Viên quyết định tìm cách nhắc khéo bạn. Nhân dịp năm mới, ông  đến chúc têt N. Đ.

Rươu, bánh chưng, thịt đông, dưa hành được dọn ra, hai ông vui vẻ thưởng thức hương vị tết cổ truyền. Nhớ tới mục đích… biết N.Đ rất ’’kiêu’’ trong lĩnh vực sáng tác câu đối, Chế Lan Viên ’’nhử mồi’’: Nghe nói ông rât thích câu đối, hay là chúng mình nhân  tết cùng nhau thù tạc một đôi câu nhé, ông thấy sao?

Ô kê – N. Đ nói vẻ sảng khoái !

- Ông ra vế đi, CLV dục .

N.Đ trúng kế, hăng hái : Đó là ’’đất’’ dụng võ của tôi. Nhưng ra vế thì dễ, đối lại mới khó. Tôi chưa bao giờ bó tay trước những vế thách của các bạn, ông ra đề, tôi đối lại !

’’Cá đã cắn câu’’ – Chế Lan Viên nghĩ, mỉm cười, đáp: Vậy được. Dứt lời ông đọc:

Chắc tôn ông không bằng Lép Tôn xtôi

- đoạn dơ tay ra hiệu – Xin mời!

N.Đ tiếp nhận vế ra nhưng ’’toát mồ hôi hột’’. Vì ông đã nghe nhiều phàn nàn của anh em trong cơ quan về mình, về chuyện Lép Tôn xtôi … Vế ra của Chế Lan Viên qúa đặc biệt: Toàn câu có 8 từ chia làm 2 mệnh đề được nối với nhau bằng  liên từ làm tính từ so sánh (không bằng). Đây là lời thách thức có ngụ ý’’Ông không bằng tôi , đừng có kệnh kiệu . Phân tích câu ra đề:

Chắc đối với Lép

Tôn ông đối với Tônxtôi.

Tôn ông là đại danh từ khi xưa các trí thức quan trường dùng để gọi đối tượng một cách kính trọng. Còn Tôn – xtôi lại là tên của đại văn hào Nga. Câu đối vừa mang nghĩa – Ông không bằng tôi, lại vừa mang nghĩa – Ông không thể bằng nhà văn L.Tôn – xtôi (không nên gắn mình với đại văn hào)!

Trong dân gian, người ta thường coi hạt mẩy – là tốt, chắc, còn hạt xấu, hỏng – là lép. Thể hiện sự tốt xấu trong chọn lựa ngũ cốc (Lạc mẩy, Lạc lép, Thóc mẩy Thóc lép…)

Chế Lan Viên đã dùng hết chữ, đã khóa chặt!

Ngoài tính chiết tự ra, câu đối còn là lời tuyên bố, khuyên nhủ: Ông không thể nào bằng Lép Tôn – xtôi nên đừng làm khổ tai anh em nữa… Đồng thời còn là lời cảnh cáo rất chí tình nhưng thâm thúy: Ông không thể  bằng tôi nên đừng kiêu căng (khi đó CLV đã là cán bộ lãnh đạo, đại biểu Quốc hội… là nhà thơ nổi tiếng, còn NĐ chỉ là nhà thơ bình thường…). Rốt cuộc, Ông đồ – nhà văn N.Đ – không đối được vế ra, đành chào thua, cười xòa… lảng sang chuyện khác…

xxx

Một câu đối khác của 2 nhà văn – Ông gìa và Cô gái – cũng  thú vị được giới văn nghệ sĩ Hà Thành truyền nhau đọc và… cười. Sự thể như sau:

Nhân một cuộc họp của Ban Văn nghê đài Tiếng nói Việt Nam mời các cộng tác viên làm Thơ về dự. Nữ thi sĩ H.N đến trước tiên, sau đó đến nhà thơ lão thành Trần Lê Văn. Ông vốn phóng khoáng, vui – nhìn H.N, than phiền: Tệ nạn đến họp chậm của người Việt đã trở thành căn bệnh cố hữu khó chữa. Qúa giờ hẹn họp mà mới chỉ có một ’’Hồng Nhan’’, một ’’Bạch Phát’’.

Trần thi sĩ nhìn H.N, chợt vụt đến…sáng mắt, đùa,đọc:

Bạch phát phát hồng nhan.

Tiền bối TLV  cứ tưởng câu đối sẽ làm cô gái chịu bó tay hay ít ra cũng phải lung túng, bởi vì câu vế ra chỉ có 5 từ , 4 từ là Hán văn – Bạch phát (tóc trắng, ông gìa) – Hồng nhan (cô gái đẹp), được nối với nhau bằng chữ Nôm – động từ’’Phát’ (đánh vào mông, bắn…). Chẳng ngờ không cần nghĩ lâu Nữi sĩ H.N đọc luôn:

Hồng nhan can Bạch phát.

Vế ra đã hay nhưng hơi bị ’’Lẳng’’. Nghĩa chữ Hán: Bạch là trắng, Phát là tóc. Bạch phát nghĩa là Tóc trắng (ông già).

Phát có nghĩa chữ  Hán là  bắn, đánh ! (bắn bách phát bách trúng…

Phát – còn một nghĩa Nôm nữa: Phát – đánh vào lưng, vào mông… Như  bố mẹ thường dùng hành động này răn dạy con trẻ khi chúng hư, nhõng nhẽo – ‘’’Phát cho nó mấy cái vào mông cho chừa khóc nhè’’. Cánh trai trẻ ’’ngổ ngáo’’ dùng tràn cung mây từ ‘’phát’’ – ’’bắn’’ trong mọi lúc kể cả cho một nghĩa thô, tục…

Hồng Nhan là người đàn bà đẹp.

Câu đối ẩn nghĩa Nôm: Ông gìa bắn… phát (đánh) vào… mông cô gái.  Cũng tưởng chỉ đọc chơi, không nghĩ rằng cô gái trẻ trung xinh đẹp – Nữ sĩ H.N – có phản ứng nhanh, thông minh – đối lại rất chuẩn. (Hồng Nhan can Bạch Phát).

Nữ sĩ dùng nguyên 4 từ của người ra đề, đảo lại chủ từ, chỉ dùng một chữ’’Can (gián)’’ của mình mà đã hóa giải vấn đề, đập đổ bức ngôn ngữ Hán văn của lão tứơng Trần Lê Văn –‘’vây’’, hòng chế ngự Hồng nhan, đánh vào chỗ yếu hay thẹn của nữ giới để – trêu trọc. Câu đối vừa nhanh, vừa chuẩn, chính xác nhưng không chua ngoa đanh đá. Nó như một lời can gián ông già ’’thích chơi trống bỏi’’: Thôi ông (gìa) ơi!’’chắu’’ xin ông, can ông ! Ông mà ’’Bắn – phát’’, Hồng Nhan thì… quá nguy hiểm, chắc ông sẽ ‘’kềnh’’ sớm…thôi!

Bạch Phát – Trần Lê Văn – cười vang gật gù, tấm tắc: Hay! Bái phục hậu sinh’’khả ố (úy)’’!

xxx

Nhưng ấn tượng nhất về câu đối thời hiện đại phải kể – câu ra đề và đối lại của nhóm những nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học : Tú Sót (văn) – Tú Xuân (khoa học) – Hữu Loan (thơ) (1): Vế ra của ông Tú Sót như sau:

 Bác bôi tôi không bằng tôi bôi bác.

Ðây là thủ pháp chơi chữ Quốc Ngữ thuần túy. Nắm vững nguyên tắc ”bất đảo” của chữ Việt hiện đại, ông Tú Sót đã chọn ra được 3 từ Bác Bôi Tôi để lập ra một ý khác sau khi đảo chỉ hai chữ thành Tôi Bôi Bác. Kết qủa của việc đảo này đã cho một tập hợp từ mới mang ý nghĩa mới – có hơi hướng, thoang thoảng giống vế ra bằng hỗn hợp Hán – Nôm của nữ sĩ trứ danh Ðoàn Thị Ðiểm : Da trắng vỗ Bì bạch !

Tiếng Việt ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam – dùng rộng rãi Ðại từ nhân xưng Bác (Ngôi thứ hai số it hoặc thể kính trong) , Tôi (Ngôi thứ nhất số ít). Bác – nếu ở vị tri trên thang bậc của bố mẹ mình (xưng là Chắu). Nếu ở vị trí ngang vai phải lứa ở tuổi trung niên tương ứng với mình (xưng là em, tôi). Có lúc giới trẻ cũng ”lạm dụng” đại từ Bác để xưng hô với nhau (xưng là tôi).

Bác bôi Tôi – có nghĩa là Ông, Anh, Mày (Bác) bôi (bẩn) tôi) .

Bôi là động từ – làm vai trò vị ngữ. Tôi là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít làm vai trò bổ ngữ trực tiếp ở mệnh đề 1. Ðó là một câu đơn giản hoàn chỉnh: Bác bôi (bẩn) tôi, vùi dập tôi, thoá mạ tôi!

Khi đảo vị trí hai chữ Bác – Tôi (câu đơn giản thứ 2) – cho nhau, cấu trúc văn phạm của toàn câu phức tạp không thay đổi nhưng ý nghĩa của nó đã thay đổi – Bác Bôi (bẩn) Tôi – Không thể bằng Tôi Bôi (bẩn) Bác.

Ðây là lời thách đố, răn đe, cũng là lời khuyên chí tình: Ông bôi bẩn, nhục mạ tôi sẽ không thể bằng tôi nhục mạ lại ông đâu. Bởi vì Tôi là thằng mạt hang, là đất nung – nhưng lương thiện, quân tử. Còn ông tự xưng là ‘‘danh gia‘‘, là ‘‘đồ sứ qúy hiếm‘‘, sạch sẽ, sang trọng từ đầu đến chân nhưng lại là Ngụy quân tử, lừa đảo . Bên trong cái vẻ hào nhoáng bề ngoài kia,là sự thối nát, bẩn thỉu – được dấu diếm che đậy. Tôi mà nói huỵch toẹt, vạch ra, rồi bôi (bẩn), thiên hạ biết bác mới thiệt…

Bác có qúa nhiều thói xấu, tôi ”bôi” lên giấy, lên văn, thơ, lên khuông nhạc, lên khung vải (vẽ), lên phim ảnh…thiên hạ biết… Bác mới ”phiền” ! Bởi vậy bác đừng làm việc dại dột : Bôi bẩn người. gắp lửa bỏ tay người trong khi‘‘Chân mình thì cưt rê rê . Lại đi đốt đuôc soi lê chân người‘‘. Ðó là việc làm xấu xa bỉ ổi !.

Thậm chi , dân gian cò nói theo cách cường điệu: Bôi, trát (Phân) – ‘‘ lên mặt‘‘ – đối tượng…

Ghép thêm chữ Bác vào thành Bôi Bác, lúc này tập hợp từ đã chuyển sang nghĩa khác rộng hơn: Nó chẳng những có nghĩa Ðen là ”bôi” mà còn hàm nghĩa Bóng – Chiết tự – (Bôi bác) – thóa mạ, nhục mạ danh dự đối tượng, trên phạm vi tư tưởng, nhân cách. Vế ra, ngoài việc làm người đọc hứng thú vì nghệ thuật câu đối chơi chữ – hoàn chỉnh, còn nói lên ý nghĩa xã hội, tính khái quát sâu rộng… Hưởng ứng cuộc đối này có rất nhiều câu hay, xin chọn 2 câu điển hình. Ông Tú Xuân đối lại như sau:  

Nhà Vô địch cứ sợ Ðịch vô nhà.

Cũng bám theo câu của vế thách đối, vế đối của ông Tú Xuân lạị gợi ra cho người thưởng thưc suy nghĩ trước một vấn đề xã hội khác: ”Ông” luôn nói rằng ông là Nhất – ‘‘Lăm bơ oan – Nhà vô địch‘‘. Nhưng thực ra không phải vậy. Vế đối này làm người đọc liên tưởng tới câu chuyện Tiếu lâm: Có một ông kia vốn rất sợ vợ nhưng lại hay sĩ diện trước bạn bè. Một lần thấy ông bạn hàng xóm bị vợ ’’sạc’’ vì tội khi trời mưa, ’’ngại bẩn – sợ xui ’’ – đã không cất cho vợ quần lót. Có một ông thuộc cánh hẩu khác tới chơi, ông kia đem hành động của bạn nói lại, chê trách: Thằng cha thật kém. Nếu phải vào tay mình thi…  

Đúng lúc vợ ông ta từ bên ngoài trở về thấy vậy trợn mắt hỏi:

- Nếu vào tay mình… thì sao?

- Thì mình… cất ngay… trước khi mưa – ông kia nói tỉnh bơ. Chị vợ lườm, nguýt… anh chồng’’cụp’’ tai!

Nhưng  – Tú Xuân đã gài ý này rất hiểm : Vào thời gian ‘’Kháng chiến chống Mĩ’’, người lãnh đạo cơ quan tuyên truyền cho’’lính’’ của mình quảng bá quan điểm: Chủ nghĩa các vị đang theo là Ngọn cờ Bách chiến bách thắng – Vô Địch Thiên Hạ (VĐTH)! Thế nhưng trên thục tế… vị VĐTH này lại (cứ) sợ  Địch Vô (vào) trong nhà mình… Như vậy, thực ra lời tuyên bố kia là gỉa tạo, chỉ Vô Địch trên lời nói, là một loại võ… miệng !

xxx

Nhà thơ Hữu Loan thì đối lại câu này như sau:

Mày ăn Dân – hết nước – Dân ăn Mày .

Nếu mới nghe, cảm thấy vế đôi có vẻ lảng xa chủ đề. Nhưng liên tưởng tới chi tiết sau đây sẽ thấy vế đối này hoàn chỉnh một cách diệu kỳ: Trên sân khấu Chèo, Cải lương, Tuồng cổ, chúng ta nhìn thấy 2 anh hề. Mặt mũi, trang phục, động tác rất…hề! Hoạ sĩ hoá trang đã làm cho anh hề có cái miệng rộng đến gần mang tai, khi nói, khi làm động tác, miệng ngoác ra , trông anh ta thật hài hước, ngộ nghĩnh. Nhưng nghe họ ”mạn đàm thế sự” mới thấy sướng lỗ nhĩ.

Một anh than phiền bị quan trên chén ép đến ngạt thở, khó sống. Anh kia ngóac miệng cười – miệng rộng ra gần mang tai khiến người xem cũng cười hết cỡ… ”thợ mộc”. Anh kia an ủi bạn: Ðừng sợ. Hôm nay cá còn sống trong nước (ao, hồ), kiên rơi xuống nước – Cá ăn kiến ! Ngày mai người ta tát ao, quăng cá lên mặt đất Kiến sẽ tơi thanh toán món nợ – Kiến ăn cá!

Bạn đọc nào đã sống ở nông thôn miền Băc thì rõ: Khi xưa, cứ gần tết nguyên đán, các nhà có ao thường tát ao, bắt cá vừa ăn tết, vừa tranh thủ lấy đáy ao cấy rau cần (vì dịp này có 3 tháng là mùa khô). Cá được bắt lên để trên mặt đất, chủ ao chuẩn bị chia phần cho mình và người tát thuê. Những đàn kiến các loại, đánh hơi thấy mùi tanh của cá, thế là: Kiến đen, Kiến Lửa, Kiến đất, Kiến cánh – ‘‘Bao nhiêu Kiến gió bay ra chia phần‘‘ (2) – Họ nhà kiến kéo nhau đến – ‘‘ăn cá‘‘. Những con kiến len, rúc qua vẩy chui vào ăn thịt khiên bọn cá dẫy đành đạch rồi chết đứ đừ. Khi chết mắt chúng mờ đi, bàng bạc… Dường như trước lúc ‘‘nhắm mắt‘‘, trước lúc cặp mắt chỉ còn đùng đục thủy tinh thể – chúng cố mở to mắt nhìn nhưng đã qúa muộn – chúng đã phải trả báo ! Cũng trong cuộc ‘‘Dẫy đành đạch‘‘ này ,‘‘Cá ta‘‘ dùng thân đè nat hàng đàn Kiến, hoặc l àm cho Kíên văng tứ tung… nhưng ‘‘Kiến ta‘‘ không sờn. Trong ‘‘đấu tranh đây là trận cuối cùng‘‘ – Kiến đã thanh toán xong món nợ – chiến thắng!

Ðây hoàn toan là hiện thực khách quan!

Trong câu sấm truyền ”Kiến và Cá” – danh từ ẩn nghĩa đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 đã được đảo, thay nhau bằng đại từ nhân xưng (Dân) và (Mày) – Dân và Mày, đối diện trực tiếp thành cặp mà rất hay ở chỗ tác giả dùng Ðộng từ hết nước – làm vai trò liên từ – để nối với Dân và Mày. Liên từ ”hết nước” mang trọn vẹn hai nghĩa, mà nghĩa nào cũng khúc triết, mach lạc, lại trào lộng: – Mày ăn Dân, làm Dân chết – làm gì còn nước.

- Không còn nước – không có Quốc gia – thì dân làm gì có Nhà.

-  Không có nhà thì đứng đường – đi ăn mày !

Nhưng vế đối buộc người nghe, người đọc phải liên tưởng, hiểu cả nghĩa khác:

- Mày ăn Dân (cá), làm Dân chết.

- Dân (cá) chết thì không còn nước (nước thối, không có sự sống).

- Không có nước , cá làm sao sống, thuyền làm sao bơi

- Hết Biển hết Sông, Hồ. Không có Nước, Mày sẽ sống bằng gì – sống với ai? Ai nuôi ? Mày cứ tưởng ”ăn Dân” là ”được”, nhưng đó là hành động tự sát. ”Hết quan toàn dân – Quan nhất thời, Dân vạn đại” – Cái chết của Dân chính là sự ”Dân ăn lại” – Mày đó !

Mày ăn Tao thì đến lượt Tao sẽ ăn lại Mày thôi – Ðó chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa – là lẽ trời!

Ðó cũng là lời tuyên chiến của những con Kiến bé nhỏ cần cù nhưng đông đúc, trước những con Cá to lớn – số ít, có chút lợi thế nhưng không bền vững. Thực tế từ ngàn đời đã chứng minh: Tất cả những chính thể tàn ác, hôn quân, bạo chúa – hại Dân, giết Dân, không được lòng Dân, sẽ chẳng tồn tại được lâu, bền. Trên thế gian này, bài học  của các bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Hitler, Polpot v.v… – là minh chứng hùng hồn (3).

Cứ Mày (cá)ăn Tao (Dân) rồi lại Tao (Dân) ăn Mày (cá) – Cá ăn Kiền rồi Kiến ăn Cá – lặp đi lặp lại, hư hư… thực thực… người ra Vế, người đối Vế – đã chuyển tải được mục đích, ý đồ của mình và người đọc tiếp nhận một cách nồng nhiệt. Câu đối hôm nay chỉ thuần ngôn từ Việt Ngữ nhưng nói được rất nhiều… hơn hẳn dùng Hán tự – phải chú giải dài dòng, phiền phức  …

Câu đối Việt Nam ở thời Hậu Hiện Ðại không hề bị mai một !

Berlin, Nhâm Thìn 2012

LXQ

Ghi chú:

(1) – Tú Sót tên thật Chu Thành. Tú Xuân tên thật Nguyễn Xuân Tụ, bút danh Hà Sĩ Phu – tiến sĩ Sinh học…

(2) – Ðám ma bác giun – Thơ Trần Ðăng Khoa

(3) – Tần Thủy Hoàng được 1 đời. Hitler và Polpot chưa được một đời…

Lê Xuân Quang: Thịt mỡ – Dưa hành CÂU ĐỐI ĐỎ (tiếp)

CÂU ĐỐI THỜI CẬN ĐẠI – 4

Lê Xuân Quang

… Đến thời cận đại, trong vòng vài ba thế kỉ cuối của thiên niên kỉ thứ 2, câu đối đã phát triển, nâng lên về chất và số lưọng. Rất nhiều văn nhân , nho sĩ tham gia thưỏng thức và sáng tác bao gồm cả nam nhân cùng nữ nhân.Người viết bài này không thể kể hết tên những tác giả, tác phẩm câu đối đã đi vào dân gian, được ghi vào sử sách. (hẹn một dịp khác). Bài viết này chỉ giới thiệu một nữ tướng lừng danh Văn chương , Thi phú và Câu Đối : Hồng hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm – người đã dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn từ Hán văn sang chữ Nôm để phổ cập rộng rải trong dân gian.

Theo từ điển Wikipedia: Bà Đoàn có biệt hiệu Hồng Hà Nữ Sĩ, người xã Giai Phạm, huyện Văn giang, tỉnh Bắc Ninh. Sinh dưới triều Lê (1705) cùng thời với cống Quỳnh và Đặng Trần Côn.
Đoàn Thị Điểm tư chất thông minh, học một biết mười, nổi tiếng văn chương ngay từ khi còn nhỏ. Mới lên sáu, đã học sách sử trung hoa cổ, lịch sử cuộc đời Hán cao tổ – (vị vua nổi tiếng lập ra vương quốc Hán 2 nghìn năm trước , là nước Trung Quốc – hôm nay…)

Anh ruột bà là Đoàn Doãn Luân thấy em thông minh, ra một câu đối để thử xem sức học của em:

Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
(Rắn trắng chặn đường, ông Quý (tên tục vua Hán cao tổ) tuốt gươm mà chém nó. (1)

Cô em đối ngay:

Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết .
Dịch : Rồng vàng đội thuyền, vua Vũ trông trời mà than rằng…

Năm 15 tuổi, một buổi tối, ông Luân xuống ao rửa chân, thấy em đương soi gương bên cửa sổ, tức cảnh ông đọc vế ra:

Đối kính hoạ my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.
Dịch : Soi gương kẻ lông mày, một chấm (điểm) hóa ra hai chấm.

Điểm là chấm, là nét vẽ, lại là tên em gái, câu nói của ông anh, có nghĩa: Soi gương vẽ mi – một nàng Điểm thành hai nàng Điểm.

Bà ứng khẩu đối ngay:

Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân .

dịch : Tới ao ngắm trăng, một vầng trăng hóa hai vầng trăng.

Luân là ví mặt trăng tròn, lại là tên anh trai. Trăng sáng in hình xuống ao. Anh trai dưới ánh sáng của trăng, in xuống nước cũng thành ông Luân khác  – (một trên bờ, một dưới nước).

Bấy giờ ở kinh đô có bốn danh sĩ thường được tôn là Tràng an tứ Hổ:

– Nguyễn Duy Kỳ, người Thuỷ nguyên, Kiến an;
– Trần Danh Tân, người Cổ am, huyện Vĩnh bảo, Hải dương;
– Nguyễn Bá Lân, người Cổ đô
– Vũ Toại, người Thiên lộc

Nghe danh nữ sĩ, bốn người rủ nhau tới nhà bà để so tài. Biết đây là những người háo danh, bà suy nghỉ chín chắn rồi ra một câu đối để thử tài “bốn… Hổ”:

Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang .  
(Trước sân, thiếu nữ mời ăn trầu).

Tân lang là biểu tượng trầu cau, cùng âm với tân lang là chàng rể mới.

Bốn “hổ” không đối được đành lẳng lặng “chuồn”!

Theo truyền thuyết: Trạng Quỳnh cùng thời với Đoàn Thị Điểm cũng lừng danh về trí thông minh, tài đối đáp “nỡm” thiên hạ từ bé. Khi cha dẫn đến nhà thầy xin cho vào học – thầy đồ chính là cha Đoàn Thị Điểm. Nhìn tướng mạo cậu học trò, thấy biết đây cũng sẽ là danh tài, có ý thử, gọi Quỳnh vào, Quành xưng tên và nói mình là nho sinh muốn theo học nhưng thiếu người tiến dẫn nên không dám đường đột.

Thầy đồ bảo : Anh nhận là nho sinh có lòng hiếu học, nếu quyết muốn học thì ta ra câu đối này, đối được ta sẽ cho nhập môn. Quỳnh xin vâng. Ông đồ đọc :

Thằng quỷ ôm cái đấu đứng cửa khôi nguyên.

Trong tiếng Hán, chữ Quỷ ghép với chữ Đấu, thành chữ Khôi – là khôi nguyên – (trạng nguyên). Quỳnh suy nghĩ rất nhanh rồi đáp liền :

Con mộc tựa cây bàng dòm nhà bảng nhãn.

Tiếng Hán chữ Mộc chắp với chữ Bàng thành chữ Bảng – là bảng nhãn (đọ đứng sau trạng nguyên). Thầy đồ khen ngợi Quỳnh nhận vào học.

Thầy có cô con gái tên là Đoàn Thị Điểm, đẹp người, đẹp nết khiến Quỳnh mê tít, chỉ tìm cách xán lại hòng tán tỉnh người đẹp… Cô Điểm đoan trang luôn ngăn cản “ý xấu” của Quỳnh nên thường chặn Quỳnh bằng những cuộc so tài, đối đáp. Rất nhiều cuộc thi bằng câu đối, Quỳnh thường bị thua. Một ngày từ phòng học Quỳnh nhìn qua cửa sổ sang phòng cô Điểm, thấy nàng vén rèm cửa sổ ngồi trước bàn. Hai cửa sổ trông thẳng sang nhau. Quỳnh mở lời tán xin qua bên ấy chơi. Điểm bảo: Nếu đối được vế này sẽ mở cửa mời qua, Quỳnh nhận lời. Điểm đọc :

Hai người ngồi hai bên cửa sổ song song .

Chữ song tiếng Hán là hai, đồng âm với chữ song tiếng Nôm là chấn song cửa sổ. Song song tiếng Hán có nghĩa là 2 cửa sổ lại đồng âm với “song song” là sóng đôi nhau. Quỳnh lại “tịt”.
Nhân một lần Quỳnh ra phố Mía trở về, khoe gặp cô gái tên Mật, ra vẻ ngầm nói: Ta đây không ”thiếu” gái theo… Nàng Điểm hiểu thâm ý của anh chàng, ”nổi tam bành”, bảo : Gặp người đẹp, vui thế, có dám đối không ? Quỳnh đang vui, thách đố. Điểm đọc ngay vế ra :

Lên phố Mía, gặp cô hàng Mật, cầm tay Kéo lại hỏi thăm Đường.

Kéo lại là hành động khi hỏi ai đó mà họ đang bận không có thời gian tiếp, trả lời. Nhưng kéo cũng có nghĩa là đường của Mía làm thành một loại dân gian gọi là Kẹo kéo (2). Vế ra rất ”ác” , khó cả về từ ngữ và ý nghĩa, bởi vì tất cả những từ liên quan đến Mía, nguyên liệu làm ra Mật – đã được người ra vế xử dụng hết: Mía – Mật – Kéo (kẹo) – Đường. Quỳnh nghe xong vã mồ hôi mà vẫn bí… tắc – đành lẳng lặng chuồn ngay.

Một lần khác, thấy Điểm vào buồng tắm, Quỳnh lại chứng nào tật ấy, si tình đến táo tợn: Đòi vào tắm cùng. Nàng Điểm lại cho một bài học khác bằng câu vế thách đối:

Da trắng vỗ bì bạch. (câu này được diễn giải ở nhiều tài liệu, nhiều lần) . Quỳnh lại phải chào thua và…“chạy”!

Một lần giáp Tết, Quỳnh đi tới nhà thầy gặp trời mưa ướt lướt thướt. Điểm đang ngồi gói nem, lấy một đĩa mời Quỳnh ăn. Quỳnh đáp : Chả thích nem, chỉ thích giò thôi !

Câu nói ỡm ờ của tay trai lơ si tình ngầm ý: Tôi chả muốn ăn nem, chỉ muốn “ăn”… giò (đùi) – nghĩa là muốn chiếm lấy thân thể của cô gái! Đến câu này thì Điểm thực sự nổi giận, nàng suy nghĩ giây lát, bảo: Nếu đối được câu này thì muốn “ăn” gì cũng cho, đoạn đọc :

Trời mưa đất THỊT trơn như MỠ,
GIÒ, MỌC, NEM,  NINH,  CHẢ muốn ăn !

“Giò” đồng nghĩa với đi lò dò, đồng âm với Giò Lụa, Giò Thủ và… “giò” (đùi).

“Chả” là chẳng, lại cũng có nghĩa là thức ăn từ thịt lợn (chả nem, chả giò, chả quế). Vế đối có cả “Thịt, Mỡ, Giò, Nem, Ninh, Mọc, Chả”, là những món ăn ngon, qúy trong bữa tiệc của dân ta thời xưa, nhất là bốn món: Giò – Nem – Ninh – Mọc đã được tổng kết đưa vào món bắt buộc của bữa tiệc linh đình (Nem Công – Chả Phượng) của giới giầu sang thời xa xưa….

Câu vế ra của nữ sĩ, các từ đã bị dùng hết. Ông trạng tương lai đành phải chào thua và “lủi” nhanh !

Sau nhiều lần thất bại, Quỳnh căm lắm tìm cách “chơi” lại đối thủ.Nhưng vắt óc mà không ra kế. Tình cờ nhân một tối đi qua phòng “nàng”, thấy cửa không khóa, Quỳnh nghĩ ra một trò tinh quái… hi vọng sẽ làm Nàng xấu hổ – để trả thù…

Đoàn Thị Điểm đi đâu đó trở về, tắt đèn lên giường ngủ. Chợt sửng sốt suýt rú lên vì tay sờ thấy “một vật”… cương cứng, nóng hổi – nghĩ ngay ra đó là của… người và kẻ nằm trên giường kia là ai? Nàng trấn tĩnh lại, lên giọng: Ta biết ngươi. Ta sẽ ra một vế đối, nếu không đối được sẽ mách thầy, đối được thì tha cho. Quỳnh nhỏm dậy run rẩy xin hứa. Nàng đọc:

Trướng nội vô phong phàm tự lập .
Dịch : Trong phòng không có gió mà “cột buồm” lại dựng lên!

Sợ hết hồn, cũng may trước “cửa tử”, Quỳnh đối được :

Hưng trung bất vũ thủy trường lưu.
Dịch : Trong bụng không có mưa mà nước cứ chảy dài.

Sau nhiều lần quan sát, tiếp xúc, nàng Điểm thất vọng về Quỳnh… Nhân một lần thầy sai Điểm mang lễ lên chùa, muốn tạo cơ hội cho trò yêu, Quỳnh được thầy cho theo cùng để bưng lễ. Khi đi trên đường cái quan, thấy rặng cây xương rồng được người mới trồng nhưng khô héo, rũ gục, Điểm chi đám cây, hướng vào Quỳnh, đọc:

Cây xương rồng, trồng đất rắn, long lại hoàn long

Rồng – chữ Hán là Long.
Long – chữ Nôm nghĩa là lỏng lẻo (hỏng).

Điểm có ý bảo Quỳnh: Tính cách ngươi như vậy thì dù có học hành, có được răn dậy, cuối cùng cũng sẽ không chuyển được, hỏng cứ hoàn hỏng thôi !Ý nghĩa của vế ra rất xâu xa, Chữ dùng hầu như đã hết, khóa chặt ở hai đầu. Trước sự chê trách của người đẹp, Quỳnh đã xuất thần đọc được vế đối – vẻ cù nhầy:

Quả dưa chuột, tuột thẳng gang, thử chơi thì thử

Thử chữ Hán nghĩa là chuột,
Thử chữ Nôm là thử xem. Cả 2 chữ : Chuột (Nôm) – Thử (Hán). thử (Nôm) – con chuột – qủa dưa gang, đã đối rất chỉnh khiến Quỳnh không mất mặt trước cuộc chơi. Câu đối của Quỳnh mang ý nghĩa thách thức : Ừ đấy ! Ta cứ thế mà vẫn chẳng sao đâu. Không tin hãy (thử) chờ xem !

Còn có giai thoại kể rằng khi sứ của phương Bắc sang nước ta, Sau khi công việc đã xong họ đi dạo thăm thú kinh đô của nước “Man di”, nghe người dẫn đường nói : Có một tửu điếm rượu ngon, thức nhắm tốt, người chủ là một phụ nữ đẹp lại hay chữ. Sứ giả Bắc phương muốn đến thử tài.

Bước vào quán thấy một phụ nữ xinh đẹp (thực ra bà Đoàn được “Cấp trên” bố trí sẵn trong vai chủ quán…). Sứ Tàu vào, bà tiếp khách ân cần niềm nở.Vốn sẵn tính ngạo mạn, khinh thường dân “ngoại bang”, một “chú Sứ” – áng chừng đầu đàn về văn chương – buông câu miệt thị, thăm dò :

An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh .
Dịch : An Nam một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày

Câu đối vế ra mang ý nghĩa tục tĩu, xấc ngạo và chọc ghẹo (3). Biết đây là những kẻ hợm mình, lại quyết tâm giữ thể diện cho quốc gia như “nhiệm vụ” được giao, bằng tài năng trác tuyệt, Bà Đoàn đối ngay không cần kiêng dè, nể nang:

Bắc quốc chư đại phu, giai nho thử đồ xuất .

Dịch : Nước Bắc (Tàu) các vị đại phu, hết thảy đều do chỗ ấy mà chui ra cả.
Câu đối đáp còn tục hơn câu ra đề – như cái tát vào mặt kẻ phàm phu tục tử vô lễ. Các Đại phu bị nhục nhưng phải tấm tắc khen văn tài của nữ chủ quán. Bà Đoàn đã dậy cho bọn ngoại bang láo xược bài học lễ độ, lịch sự khiến chúng bị đau đến độ mất mặt mà vẫn phải tâm phục, khẩu phục. Các đấng “Mày – Râu” ngoại bang tưởng rằng đàn bà nước Nam yếu đuối, sẽ xấu hổ khi họ nhắc đến điều mà nữ nhi thường tình chi dám đối đáp trong phòng the với người đàn ông của mình.

Ai ngờ – họ nhầm to, chuốc lấy thất bâi thảm hại !

Phụ nữ thượng lưu giỏi như vậy đã đi một nhẽ. Nhưng phụ nữ Việt trong dân gian cũng đâu có kém ai. Lấy một thí dụ được dân gian truyền tụng : Một ngày, có hai thầy trò nhà sư – một sư Bác, một chú Tiểu – đi trên đường cái quan qua một làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn ) ngày nay. Họ nhìn thấy một nữ Canh điền (Người đàn bà thợ cầy) cùng một con trâu… cái – đang cặm cụi làm cái việc nặng nhọc (cầy ruộng) mà địa phương khác chỉ dành cho đàn ông (4). Vốn gốc là nho sinh, vẫn còn nặng lòng trần tục nên chỉ có ý khoe tài văn chương chứ không có ý miệt thị người phụ nữ nông dân, Sư Bác tức cảnh đọc:

Nhất ngưu, nhất thửa, nhất canh điền.

Chú tiểu cũng biết chữ, lại mới vừa vào chùa làm Tiểu tăng, vẫn còn đang vương vất mùi trần tục nên vui vẻ, hăng hái nối:

Nhất lôn hướng hậu, nhất lôn tiền.

Dịch nghĩa : Một con trâu, một mảnh ruộng, một người nữ thợ cầy.  Một l… hướng về phía sau (con trâu cái), một l… lại hướng về phía trước (Nữ canh điền).

Chị Canh điền mồ hôi nhễ nhại, mồm đang “Vắt” … “Đi” – dục trâu. Thấy hai vị “con Phật” có thái độ khoe khoang văn tài, không đàng hoàng. Vốn là con gái một thầy đồ, cha chết, gia cảnh bần hàn phải tự kiếm sống, nghe họ trêu trọc, chị vội “họ” trâu lại, ngẩng lên, lau mồ hôi trán, nhìn chăm chăm Sư Bác và chú Tiểu. Hai vị chột dạ sợ chị nông dân nổi sùng. Nhưng không – nữ canh điền cất giọng từ tốn đọc vế đối của mình :

Nhất Sư, nhất Tiểu, nhất Chùa chiền

Rồi, ngừng lại giây lát…

Hai thầy trò nhà sư trố mắt nhìn, giỏng tai, chờ đợi – nghe…

Đột nhiên câu thứ hai của vế đối vút lên, vỡ oà ra:

Lưỡng đầu chỉ Địa, lưỡng đầu Thiên !

Hai thầy trò tái mặt vội cúi gằm, bước nhanh như chạy, trong khi Nữ Canh Điền kia cười phá lên. Tiếng cười của chị mới sảng khoái làm sao !…

 Berlin – 23 tháng chạp – Ngày tiễn ông Táo chầu trời.

LXQ

 (1) – Theo sách Đông Chu Liệt Quốc : Hán Cao Tổ – Lưu Bang trước khi khởi binh đánh Tần Thủy Hoàng – làm chức Đình Trưởng. Một tối ông uống rượu với các bạn, nửa đêm vùng dậy đòi đi về nhà. Bạn bè khuyên không nên về vào giờ này phải qua con đường mà theo dư luận : Ở đấy thường có con rắn trắng thành tinh xuất hiện, gặp người là ăn thịt.

Đang say rượu, Lưu Bang không nghe, cứ quyết đi. Đến giữa đường quả nhiên con rắn trắng nằm chắn lối, Lưu Bang vung gươm chém chết rắn trắng trở về nhà bình an. Tin này loang nhanh, nhân dân trong vùng thán phục , cho rằng Lưu Bang là do trời sai xuống cầm tinh Hồng xà (rắn đỏ)trảm bạch xà trừ hại cho dân. Uy danh đó vang lừng .Khi Lưu Bang hiệu triệu đánh Tần Thủy Hoàng, dân chúng rủ nhau đi theo rất đông. Lưu Bang khởi nghiệp, tiêu diệt nhà Tần tiếp theo diệt “Đồng minh” Hạng Võ, lên ngôi Hán Cao Tổ… lập ra nhà Hán sau này.

(2) – Kẹo Kéo là thứ kẹo được làm từ mật mía. Kẹo nguyên dạng mầu trắng sữa, làm thành một cục rất dẻo, dai. Muốn lấy kẹo, người bán phải véo vào cục đường kéo dài ra rồi dùng kéo cắt. Tất cả trẻ em ở làng quê đều thích ăn kẹo kéo. Cứ nghe thấy người bán kẹo rao : Kẹo kéo vừa dẻo vừa dai… đây ! cùng lúc đó người bán dập cái kéo phát ra những tiếng cách cách… bọn trẻ trong các nhà túa ra mua ăn…

(3) – Nhà thơ Xuân Sách đã vận dụng tích này viết về một tác gỉa – nhà Văn, trong thơ Chân dung nhà văn – của ông :

Đất làng vừa một tấc/ Bao nhiêu người đến cầy/ Thóc giống còn mấy hạt/ Đợi mùa sau hẵng hay.

 “ĐẤT CHỈ CÓ MỘT TẤC”” mà nhiều người muốn cầy thì… Thơ rất thanh nhưng ngẫm nghĩ kĩ lại … người nghe cười phá lên!

(4) – Tôi đã sống ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn nhiều năm và công nhận hiện tượng này là có thật. Phụ nữ Đình Bảng rất đảm đang. Công việc ruộng đồng, buôn bán, làm giầu lại đảm việc nhà. các “Đức ông… chồng” thường là ở trong nhà có khi “trông con, đuổi gà” cho… vợ – điều mà tôi đã chứng kiến. Tuy vậy phụ nữ Đình Bảng cũng vẫn bị các Huyện khác của Bắc Ninh liệt vào hàng 1 trong “tứ Bất”, được dân đất Kinh Bắc thời xa xưa tổng kết thành câu ca :

Bất Giao – Phù Lưu, hữu
Bất Phu – Đình Bảng, Thê
Bất Ẩm – Đồng Kị, thủy
Bất Thực – Cẩm Giang, kê.

 Theo cách giải thích của các cụ xứ Kinh Bắc;

+ Làng Phù Lưu được dân trong vùng coi là thớ nợ, chỉ nói hay chứ thực chất không có gì, cho nên bị nhận xét – Phù lưu đãi khách – nghĩa là sơ sài, nhạt nhẽo chứ không mặn mà.

+ Gái, Trai Làng Đình Bảng có những đặc điểm riêng; Lấy chồng về – con gái chỉ hầu chồng. Lấy vợ thì bị vợ””Trèo lên đầu”. Cho nên chớ lấy vợ, lấy chồng ở làng này.

+ Làng Đồng Kị xưa nằm ở vùng trũng. Khi mùa mưa, cả làng nằm ở nơi 4 mặt đều là nước. Nước thải từ các nhà không tiêu thoát, uống nước làng này là uống phân người phân súc vật.

+ Làng Cẩm Giang xưa có nghề ăn trộm gà. Ăn thịt gà ở làng này là ăn … tiếng chửi của dân mất của.

(Phù lưu, Đình Bảng, Đồng Ki, Cẩm Giang là 4 làng nằm ở phía tây, bắc gần giáp Đình Bảng – Từ Sơn.

Tất nhiên đây là câu vè do các cụ đặt từ xa xưa, các đặc điểm của các làng này hiện đã không còn tồn tại…)

Lê Xuân Quang: Thịt mỡ – Dưa hành CÂU ĐỐI TẾT (tiếp: PHẦN 2 VÀ 3)

CÂU ĐỐI THỜI CỔ ĐẠI (2)

Lê Xuân Quang

 Câu đối không chỉ để văn nhân sĩ tử thù tạc, hưởng thụ gío – trăng – hoa – cỏ, mà còn phản ánh những bức xúc của cuộc đời, thời cuộc, chính sự. Trong từng mốc thời gian, câu đối dần nâng lên, phát triển về số lượng, chất lượng, ngày càng được những người yêu thích, thưởng thức, tham gia sáng tác.

Ngay từ khi nước Đại Việt ra đời, có chữ viết, có nhà nước phong kiến, vua quan, các đối tượng có học (nhà nho, thầy đồ, sĩ tử, học sinh) – đều ưa thích và sáng tác diễn tả sinh hoạt đời sống của cá nhân hay xã hội… 680 năm trước (1332), nhà sử học Lê Văn Hưu lúc thiếu thời đã từng làm câu đối. Một câu đối trong số đó được lưu truyền tới hôm naqy. Tương truyền, khi còn bé, đi học về qua chiếc lò rèn, thấy bác thợ cả đang bằng chiếc búa nhỏ, đập từng tiếng trên đe, trên vật rèn…. chỉ huy anh thợ phụ quai búa rèn sắt. Vốn tính hiếu kì, LVH đứng lại xem. Chỉ một loáng, từ thanh sắt đỏ rực, thầy trò bác thơ đã rèn ra chiếc dùi nhọn. Thích thú lại quen biết, chú bé cất lời xin một chiếc. Bác thợ cả hỏi: Cậu lấy dùi làm gì ? Không phải dùng làm’’vũ khí’’ đánh nhau với bạn chứ?

LVH vội thanh minh : Ồ không ! Chắu xin để làm dùi đóng sách vở.

- Thế à ? – Bác thợ cũng là người có học, chợt nghĩ ra… bảo : Nếu vậy, ta ra cho câu đối, đối được sẽ tặng một chiếc. Có dám đối không ? không để cho cậu bé lên tiếng, ông đọc luôn:

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò rèn lên dùi vở.

Không hề lúng túng, sợ sệt Lê Văn Hưu ứng đối ngay :

Nghiên ở túi, giấy ở túi, bút ở túi – viết lúi húi mà đậu khôi khoa.

Chỉ từ một quy trình của công nghệ rèn, với những dụng cụ và sức lao động, người thợ rèn đã biến sắt thép thành những dụng cụ , đồ nghề phục vụ cuộc sống và chiến đấu chống giặc ngoại xâm (gươm, dáo…). Bên bễ, lò, đe, búa – bác thợ cả như một vị tướng – cầm chiếc búa con chỉ huy người lính (thợ phụ) quai búa tạ (búa to) biến sắt thành vật hữu dụng .

Về mặt nghệ thuật đôi câu đối đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh. Đối nhau từng chữ, từng đôi, từng nhóm  từng cụm từ. và từng ý…nhưng cốt lõi chỉ nằm ở hai động từ :

Câu của bác thợ rèn – ‘’thổi phì phò’’…

Câu của Lê Văn Hưu –‘’viết lúi húi’’….

Tại sao lại thổi phì phò ?

Khi xưa những chiếc lò rèn có 3 chi tiết quan trọng : Bễ – Lò nung – Đe búa. Muốn rèn được sắt thành vật dụng, phải cho vào lò lửa. Muốn cho thanh sắt nóng đỏ lên, mềm ra, Bễ phải thổi gió vào lò cho than cháy rực lên nhằm tăng nhiệt độ . Vât sinh gió chính là chiếc Bễ – được cấu tạo thành 2 ống bằng nhôm, kim loại hay gỗ ghép, đường kính chừng 20 phân. bên trong có cuộn giẻ bọc da, buộc ở đầu qcây que. Người thợ mỗi tay cầm 1 cây, tay này kéo lên, tay kia ấn xuống đẩy gió vào lò qua ống dẫn. Dưới tác động của hơi gió, ngọn lửa cháy to tạo ra những tiếng phì phò… phì phò. Cùng với tiếng quạt gió, những người thợ làm việc nặng nhọc cũng ‘’ tthở rốc…phì phò’’ – theo. Tiếng động này dân ta nói một cách hình tượng – Thở như…trâu khi con vật kéo cầy trên ruộng.

Còn Viết lúi húi là thế nào ?

Khi người ta đầu cứ ngẩng lên, cúi xuống – dân gian gọi là lúi húi  . Chàng thư sinh  – cũng với dụng cụ cần cho việc trau dồi kiến thức(sách, bút, nghiên) nhưng nhà nghèo, không có bàn ghế ngồi học, phải nằm phủ phục trong ổ rơm, trên phản, trên giường – lúi húi, cặm cụi học : Kết qủa của sự học đó là đỗ đạt, được bổ đi làm quan…

Cả hai người – Mộ công nhân – một trí thức đều lao động’’cật lực’’ mới có thành quả. Chỉ cần dung 3 từ, đôi câu đối đã thể hiện đầy đủ công việc nặng nhọc của người thợ, ngưòi học trò nghèo. Chỉ vẻn vẹn mỗi câu 16 chữ mà đôi câu đối  nói được đầy đủ một qúa trình lao động sang tạo, bao gồm ý nghiã rõ rang, sâu sắc điều cần diễn đạt…  

120 năm sau (1322 – 1442), đến lượt vua Lê Thánh Tôn đã đưa câu đối tiếp tục lên đỉnh cao nghệ thuật. Tương truyền : Lê Thánh Tôn là ông vua giỏi trị nước. Ngài dùng câu đối để phản ánh sinh hoạt đời sống của thần dân mình sau mỗi chuyến vi hành, tìm hiểu cuộc sống của dân  để ra các quyết sách có lợi cho dân cho nước. Những câu đối của ngài, được lưu truyền trong dân gian, đưọc sách báo, văn chương ghi lại.  Xin giới thiệu một vài câu nổi tiếng này :

Nhà vua vốn rất thương dân, không chịu giam mình trong cung điện, nghe đám quần thần tấu trình mà trong đó khá nhiều điều gian trá’’xàm tấu’’ nên thường cải trang thành thường dân đi xem dân chúng làm ăn sinh sống…

Một năm kia – vào chiều 30 tết – Ngài cải trang thành Thư sinh cùng một Thị vệ đóng vai thơ đồng đi tìm hiểu dân gian đón tết. Dân Việt có câu tục ngữ từ bao đời: Ðói ngày giỗ cha, no ba ngày tết. Dù cả năm ăn đói mặc rách, nhưng ngày tết nhà nào cũng cố sắm sửa cho con cái mình được bữa no có tấm áo lành, đẹp để mặc.

Khi Ngài đến cuối một phô nhỏ, vắng – trong kinh thàng Thăng Long – thấy có một túp lều, cửa đóng im ỉm, lạnh tanh. Viên thị vệ tiến lên đánh tiếng, mãi sau mới thấy có một người đàn ông vẻ ngái ngủ ra nhấc tấm phên che. Nhà vua bắt chuyện, hỏi… người kia than phiền: … Nghèo đến độ chỉ đủ hai bữa cơm hàng ngày, không có dư để mua sám tết. Ngạc nhiên – vì ngài thường được các quan trong triều tấu sớ rằng con dân của ngài sung túc – giờ thấy người kia nói vậy, nhà vua thấy lạ, hỏi: Anh làm nghề gỉ? Có chịu khó làm việc không?

- Bẩm, con làm nghề… hót phân. Hàng ngày đi từ sáng sớm đến tối mịt, chỉ hót được hai thúng, đem bán cho các chủ ruộng, mua vừa đủ hai bữa gạo ăn.

Nhà vua nghe xong thương cảm. Bảo người Thị vệ cho anh ta ít tiền đoạn sẵn giấy bút mang theo Ngài viết cho đôi câu đối :

Khoác một chiến bào, đảm đang khó khăn thiên hạ

Vung ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian.

Khẩu khí như của một ông Nguyên Soái chuẩn bị ra trận. Nào chiến bào, nào Kiếm, nào gánh vác thiên hạ trên hai vai. Ðủ cả. Thế nhưng nhìn người hót phân cũng thây đúng các trang phục này:

- Áo bào chính là áo tơi khoác ngoài, che mưa nắng, rét mướt – vì cấu trúc, hình thể của chúng hoàn toàn giống y trang. Chỉ khác: một làm bằng lụa quý thêu kim tuyến, còn một làm bằng lá gồi – thứ lá cây dùng làm nón và lợp nhà dành cho dân nghèo.

- Kiếm, đao – chính  chiếc cào, chiếc xẻng để hót những đống phân người, phân suc vật vương vãi trên đường làng. Vừa làm sạch đường lại vừa để bón cho lúa, hoa mầu tốt tươi .

- Trên vai gánh đôi thúng. – chính là gánh vác giang sơn –‘’đảm đang… thiên ha’’.  

Thời xưa, nghề hót phân là nghề mạt hạng nhất. Ðến độ, khi dậy con cái, bố mẹ, ông bà – thường đem nghề này ra ”dọa” trẻ: ”Không chịu học hành, dốt nát, sau này lớn lên chỉ đi hót phân”. Dươi mắt của Minh Quân Lê Thánh Tôn, người làm nghề thấp hèn, bẩn thỉu nhất đã trở nên quan trọng: Còn gì vĩ đại bằng người thu phục được ”nhân tâm” thiên hạ – Ðó là ước nguyện, hành động của các đế vương!

Tiếp theo, nhà vua đến một ngôi nhà ở phố khác.

Theo phong tục, người chủ nhà cùng đứa con lớn ra chào khach xông nhà. Gia chủ này có vẻ khá hơn người hót phân, tuy cũng không hơn nhiều vì đến giờ tất niên mà nhà ông ta vẫn còn la liệt những mảnh vải đang nhuộm dở phơi trên giây. Biết khách là học trò, ông chủ nhà xin thầy cho đôi câu đối lấy may, đoạn sai cậu con trai mang giấy, bút, phẩm mực đến. Nhà vua quan sát, suy nghĩ… đọạn viết:

Thanh hoàng ngã thủ giai thiên hạ

Triều trung chu tử tổng ngô gia.

Dịch:  

Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ

Ðỏ tía triều đình bởi cửa ta.

Ông thợ nhuộm thì trong nhà phải có phẩm mực đầy mầu sắc – Xanh, vàng, đỏ , tiá (Tím thẫm), các mầu này chỉ dung cho vua quan. Ông thợ nhuộm đã tô điểm ngay cho cả triều đình… khiến họ mơi trở nên danh gía!

Hai đôi câu đối này được 2 gia chủ treo ở cửa nhà đón xuân. Thám báo của triều đình thấy khẩu khí có vẻ lộng ngôn, ngạo mạn, phạm thượng… vội về tâu trình thượng cấp trị tội. Sau khi biết rõ nguồn cơn… các quan đại thần vô cùng cảm phục minh quân của mình. Hai gia chủ kia lập tức được nhận ân xủng: Con trai ông thợ nhuộm được ngay một quan đại thần, đem con gái gả cho. Còn người hót phân thì chức sắc đia phương cấp ruộng công điền… và lộc vua ào ào đổ dến. Thiên tử đến nhà là phúc lơn không chỉ cho cá nhân mà còn là ơn mưa móc của trời đất tưới cho cả vùng…

 *****    

CÂU ĐỐI THỜI TRUNG CẬN ĐẠI (3)

Một vị’’thần đối’’ của nước Đại Việt thời Trung đại  mà chúng ta không thể không nhắc đến : Lưỡng quốc trạng nguyên – Mạc Đĩnh Chi (MĐC).


Đã có rất nhiều người viết về cụ, bài viết này chỉ giới thiệu một câu đối  nổi tiếng được sử sách ghi lại : Tương truyền , một lần MĐC được vua Trần Anh Tông cử đi sứ  sang Trung quốc nhằm thiết lập bang giao.

Bước chân tới cửa khẩu biên giới rồi vào cổng thành kinh đô của họ, cụ liên tục bị đám quan quân nước sở tại gây khó dễ bằng cách ra câu đôi hòng dồn cụ phải bó tay, chịu nhục. Nhưng tất cả âm mưu đó đều bị cụ đánh bại bởi tài trí thông minh tuyệt đỉnh, cách ứng xử nhanh trí, qua những câu đối hay, chuẩn xác, đầy kiêu hãnh khiến đám người kia tuy tức giận mà không làm gì được Sứ thần của nước ”Man di” – (cách gọi những nước ngoài biên giơi Trung Nguyên của đám Bành trướng Trung Hoa cổ).

Riêng đôi với Sứ thần nước Đại Việt còn có đặc điểm ”xấu như qủy” luôn thắng trước các cuộc thử tài – khiên sự ghét bỏ đói với cụ Mạc ngày càng tăng. Lần này những bộ óc siêu việt của Trung Nguyên quyết tâm tìm cách hạ gục, trả mối hận. Vẫn võ cũ – ”hạ tiện” – sau khi đoàn ngoại giao của ta được bố tri nghỉ ngơi ở quán khách, Người đại diện cho nhà vua nước sở tại đến đưa cho trưởng đoàn một vế đối nói rằng nếu đối chỉnh mới được vào trình quôc thư. Nội dung vế ra như sau:

y, Mỵ, Võng, Lượng – Tứ tiểu quỷ.

Ðây là vế ra đề rất khó, ác hiểm: 4 chữ đầu đều là tên 4 Quẻ trong Kinh Dịch . 3 chữ tiếp theo lột tả bản chất của 4 chữ đầu, tạo ra một tập hợp Hán từ vừa mang ý nghiã cấu trúc của từ vựng tượng hình, vừa mang ý nghĩa của từ rất ”Nôm” – (Người xấu như Qủy). Ðiều quan trọng: Làm thế nào để đối được câu này hoàn chỉnh cả về ý lẫn về lời. Nhất là làm sao hạ gục, xóa bỏ ý nghĩa của tập hợp từ ”Tứ Tiểu Qủy”

Kinh Dịch là tác phẩm triết học, khoa học cổ đại nhất của Trung Hoa mà chỉ có rất ít những người  học giỏi, học rộng, đọc, hiểu. Kinh Dịch lại viết bằng Hán tự – tiếng nói, ngôn ngữ của chính họ. Dưới mắt họ, viên Sứ thần nước Man di – xấu như qủy – tài học làm sao bì được với những bộ óc kiệt xuất của Trung Nguyên. Chẳng ngờ, nhận đề xong, cụ Mạc không suy nghĩ, đọc ngay vế đôí:

Cầm, Sắt, Tỳ, Bà – Bát đại vương!

ầm, Sắt, Tỳ, Bà cũng là 4 quẻ trong Kinh dịch. Trong 4 từ này, ở mỗi từ tiếng Hán cổ đều có 2 chữ Vương. Vế đối hoàn chỉnh đến lạ lùng. Bát Ðại Vương đối với Tứ Tiểu Quỷ. Nhưng còn tuyệt diệu hơn: Người ra đề là chủ, khinh miệt khách ở hình hài, trí tuệ đến hợm hĩnh, chủ quan tự đặt mình, núp trong ”Tứ Tiểu Qủy” – hòng áp đảo đối thủ..

Còn khách thì kiêu hãnh cũng tự nhận, đặt mình vào 8 chữ Vương – Bát Ðại Vương (8 ông vua lớn – tiếng Hán cổ) – chứ không phải là 4 Qủy Nhỏ. Trước 8’’vua lớn’’ tất nhiên 4’’qủy nhỏ’’ sẽ bị chém đầu.

Quan viên nước chủ nhà ra đón đều giật mình kinh ngạc, bái phục, vội mở rộng cửa mới danh sỹ Mạc Ðĩnh Chi vằo trình quốc thư. Chính những thử thách này… nhà vua Trung Hoa đã phong cho Mạc Đĩnh Chi danh xưng – Lưỡng quốc trạng nguyên !

Không thua kém tiền bối, 8 thế kỉ sau (1304 – 1907) Vua Duy Tân đã phát huy tinh thần chống giặc xâm lược Pháp qua một câu đối. Tương truyền: Sau khi chiếm thành Hà Nội, để dễ bề cai trị, Pháp chia bản đồ nưóc ta thành 3 vùng – 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì. Bắc và Trung kì giao cho chính phủ Nam triều nhà Nguyễn qủan lí, dưới sự giám sát của viên Khâm sứ đại diện cho toàn quyền Đông Dương. Nam kì tách ra thành lập chế độ thuộc địa, trực tiếp Pháp cai trị. Quyết định này dấy lên sự chống đối mãnh liệt của dân Việt và triều đình nhà Nguyễn trước sự xâm l ược trắng trợn của Pháp..

Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San sinh nă m 1900 , lên ngôi năm 1907, đặt niên hiệu Duy Tân. Ông  lên ngôi, còn qúa trẻ , thực lực của đất nước hạn chế: Quân sự yếu kém, kinh tế nghèo nàn nên đành chịu lép vế , dù vị vua trẻ có ý định ngay từ khi lên ngôi muốn Duy Tân đất nưóc..

Một lần, tên Khâm sứ đến yêu cầu nhà vua và triều đình tham gia cùng chúng dẹp yên sự chống đối của dân Việt trước việc phân chia. Y là tên thực dân cáo gìa, thông tuệ ngôn ngữ Hán – Nôm, hiểu phong tục tập quán lịch sử, địa lý của Việt Nam. Sau một hồi làm việc căng thẳng, để giảm sức căng, Y khéo léo lái cuộc ’’hội đàm’’ sang lĩnh vực văn chương, cùng nhà vua bàn chuyện thi phú… sau một hồi rào đón…rốt cuộc đề nghị hai bên chơi chữ –  đọc câu đối . Nhà vua trẻ đồng ý, viên khâm sứ đọc vế ra:

 Rút ruột VƯƠNG – Tam phân thiên hạ

Phải thừa nhân vế ra của tên thực dân cáo già rất hay, khúc chiết, lại nói lên được vấn đề mà Y đang quan tâm. Đây là loại câu đối dùng chiết tự trong chữ Hán:

Chữ Vương là Vua.

Nếu (rút) bỏ đi nét sổ, nằm ở giữa (ruột) – chữ Vương thành chữ TAM là Ba  – con số 3 đang nhức nhối trong lòng nhà  vua (tam phân thiên hạ). Cân đối ngụ ý: Ông Vua hãy cởi lòng, bỏ đi những trăn trở, mặc cảm đưa việc phân chia địa lí (3 Kì) vào ổn định, để Pháp – Việt chung sống trong hòa bình, thịnh vượng – đề huề.

Vua Duy Tân  là ông vua có ý chí tự cường, thông minh bẩm sinh (2). Ngay từ khi lên ngôi, tuổi còn ấu thơ (8 tuổi) đã có tinh thần kiên cường , là một trong 2 vị vua thời nhà Nguyễn có tinh thần chống Pháp mạnh nhất (Duy Tân, Hàm Nghi). Vế ra đề  không thể làm khó được vị vua thiếu niên anh hùng. Chẳng cần suy nghĩ lâu, nhà vua đọc ngay vế đối :

Chặt đầu TÂY – Tứ hải gia huynh .

Cả 2 vế – ra đề, đối lại thật hay hoàn chỉnh cả ý lẩn lời (Từ ngữ):

Rút ruột Vương – Tam phân thiên hạ

Chặt đầu Tây – Tứ hải gia hunh.

hà vua cũng dùng phương pháp chiết tự để bẻ gẫy ý chí ngông cuồng của tên thực dân. Trong Hán tự: Chữ TÂY –‘’chặt đầu’’ – (bỏ đi nét ngang trên đầu), trở thành chữ Tứ là Bốn – 4.  Mệnh đề phụ của vế đối là một thành ngữ: Tứ Hải gia huynh đệ – (Bốn bể đều là anh em). Nhà vua đã lớn tiếng mắng vào mặt tên xâm lược : Nếu giết hết bọn bay, thiên hạ sẽ thái bình, tình anh em sẽ được thiết lập !


Nếu chỉ xét riêng về ngôn ngữ 2 câu đối của 2 người – Vua Duy Tân và tên Khâm sứ thực dân – nhà vua chiếm thế thượng phong, có dũng khí của dũng tướng trước đối thủ. Toàn bộ câu đối chỉ có 14 từ, chia làm 2 vế, mỗi vế 7 từ, từng từ, từng c ụm t ừ – đối nhau chan chát:

Chặt đầu – đối với – Rút ruột

VƯƠNG – đối với – TÂY

Tứ – đối với – Tam

Tứ hải gia huynh - đối với – Tam phân thiên hạ .

Cứ tưởng hai Nho sĩ đang thù tạc khi ’’trà dư tửu hậu’’, nhưng thực chất là một cuộc đấu bằng ý chí thông qua ngôn ngữ. Đó là thông điệp của ’’thiên tử’’ , thay mặt cho ’’thần dân’’ nước đại Việt, dõng dạc tuyên bố: Nước Việt quyết tâm đánh đuổi kẻ xâm lược, xây dựng mối giao hảo an hem với bốn biển năm châu…

Một lĩnh vực để Câu đối vùng vẫy là hài hước, chế diễu, biểu dương nhưng thật tế nhị, thâm thúy – đó là vịnh, ’’chọc cười’’ đối tượng. Người bị ’’chọc’’ không giận (tuy trong lòng không thích). Lây vài câu tiêu biểu làm thí dụ:

Nguyễn Công Trứ thời trai trẻ rất phong lưu, đào hoa, thích hát xướng đặc biệt ông thích 2 loại hình: Chèo và hát ả đào (cô đầu). Khi đã thi đỗ, làm quan, cụ vẫn mê hát. Cụ nghè Nguyễn Qúy Tân là bạn học, quen biết, hay chữ rất hiểu bạn mình. Một lần khi cụ Thương Trứ đã về nghỉ hưu, con chắu làm lễ thượng thọ mời quan khách tới dự. Cụ Nghè Tân gửi tặng đôi câu đối:

Giang sơn tóm lấy đôi sân khấu

Văn vũ ra tay một khúc cầm.

Mọi người trong nhà xúm vào khen rối rít. Cụ Thượng Trứ chỉ tủm tỉm cười… bạn bè cố suy nghĩ, mải sau rồi cũng hiểu ra thâm ý của Nghè Tân…

Nguyễn Công Trứ là vị quan có công khai khẩn đất hoang ven biển Vịnh Bắc Bộ nằm ở 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, tạo ra miền đất trù phú làm cho dân chúng phát triển nghề canh nông, nhưng bản chất phóng khoáng, trăng hoa đặc biệt vơi các Đào nương. Cụ rất thích sân khấu, tuồng chèo. Một giai thoại kể lại: Khi còn đi học, một lần cùng người đẹp đi trên cánh đồng đang mùa lúa trổ bông. Mây nước gợi tình, chàng Nguyễn lấy ngay đất làm giường, trời làm màn, chiếu cùng nàng ’’mây mưa’’…

Khi đã làm quan lớn, nhân vjêc đi kinh lí qua vùng kia, nghỉ trong nhà khách của quan Huyện.  Người giúp việc vào báo tin, một phụ nữ rất đẹp muốn được tiếp kiến. Thấy nói có phụ nữ đẹp tới thăm, cụ Nguyễn cho vào. Nhìn thấy người nhưng Quan không nhớ đã gặp ở đâu… Người phục nữ kia biết ý cất tiếng ngâm hai câu thơ:

Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ… hự… anh hùng nhớ chăng?

Nghe câu thơ, Nguyễn Công Trứ nhớ tới cái buổi cùng người đẹp đi trên cánh đồng… cụ nhận ra ’’người xưa’’.

Trên sân khấu biểu diễn có người hát, phải cò đàn – (cầm), nên đọc câu đối lên, thấy ngay không khí ca vui:

Giang sơn – đối với – Văn vũ (Đất nước – quan văn, quan võ)

Tóm lây – đối với -  ra tay

Đôi sân Khấu – đối với – Một khúc cầm.


 


Trên  – tóm lấy đôi…

Dứới – cầm một khúc…

Ngẫm nghĩ, liên hệ rồi trí tưởng bay bổng, ngưòi đọc nhận ra ngay’’hiện trường’’…  

Bản tính gió trăng của cụ Thương thời trai trẻ… nhất là  6 từ của 2 câu trên: Đôi san khấuMột khúc cầm. Chẳng trách nào cụ Thượng bị lão Nghè chơi ’’xỏ’’ mà chi biết cười trừ… vì câu đối qúa hay, dùng từ qúa chuẩn, qúa đúng…không thể giân ’’Lão ngoan đồng’’ này được!

Một câu đối khác của ông bạn gìa – quan văn, tặng ông bạn gìa – quan võ, cũng được người đời truyền tụng: Hai ông là bạn học thời trẻ. Về gìa cùng nghỉ hưu. Quan võ cả cuộc đời chính chiến, tung hoành làm lên nhiều chiến công, nhưng thân thể cũng trầy da tróc vẩy… Nhân lễ mừng thượng thọ, ông quan văn sai người mang đến tặng bạn đôi câu đối:

Cung kiếm ra tay – Thiên hạ đổ dồn hai mắt lại

Đao thương vùng vẫy – Anh hùng chỉ có một ngươi thôi.

Quan võ vốn biết bạn là người hay chữ nổi tiếng trong vùng nên xem món qùa như vật qúy, sai con chắu tạc vào bảng gỗ sơn son thếp vàng làm câu đối treo ở nơi trang trọng trong nhà. Một ông bạn học khác, có dịp về quê, tới thăm. Quan võ mở tiệc thết đãi. Rượu được vài tuần, đã ngà ngà, ông bạn hỏi gia chủ: Ai tặng ông câu đối này vậy?

Quan võ nói tên…

Bạn rượu nghiêm nghị, hỏi: Ông thấy câu đối có gì khác không?

Quan võ vốn thật thà, trả lời: Chẳng có vấn đề gì cả. Có điều ’’thằng cha’’ đề cao tôi hơi qúa. Cái gì mà ’’thiên hạ đổ dồn’’… ’’anh hùng chỉ có…’’.

Ông bạn kia cười vang, bảo: Vấn đề ở câu đó! 

Sau một hồi suy nghĩ quan ta nhận ra, nổi cắu: Thế hóa ra nó chửi tôi là thằng chột, ư?. Câu đối nghĩa đen ca ngợi bạn  nhưng cũng chấm phá vài nét về thân hình: Quả thật trong chiến trận, quan võ đã bị chột (hỏng) một mắt. Người chột (chỉ còn một mắt – con ngươi) nên khi nhìn vật nào đó phải ’’đổ dồn’’ mắt còn lại vào điểm nhìn. Còn, người  ’’anh hùng chỉ có một (con) ngươi thôi’’ – cũng chính còn bao gồm anh hùng chột một mắt!

Berlin – Tết Nhâm Thìn 2012

LXQ

(1)Mạc Đĩnh Chi (chữ Hán: 莫挺之; 1280-1346) tự Tiết Phu (節夫), làm quan đời Trần Anh Tông (sau là đời Trần minh Tông). Ông vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm lưỡng quốc trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa .

Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí nhưng trí tuệ thông minh


(2) Tên của vua Duy T ân là Nguyễn Phúc Vĩnh San, con thứ 5 của vua Thành Thái. Sinh năm 1900, lên ngôi vua năm 1907 hiệu là Duy Tân, bị Pháp truất ngôi năm 1915, đưa đi đầy ở đảo Ruynion…

Tương tuyền, nhà vua rất thông minh. Một giai thoại được ghi lại: Lúc bẩy tám tuổi, khi ra bải biển cửa Tùng tắm, chân tay nhà vua lấm cát, bùn. Thị vệ bưng chậu nước đến để vua rửa, nhìn thấy chậu nước, vua hỏi: Chân tay bẩn thì lấy nước mà rửa, vậy Nước bẩn lấy gì mà rửa?

Quan tháp tùng, thị vệ chưa ai kịp lên tiếng, nhà vua đáp ngay: Thì tìm cách trừ khử những vật ngoại lai lẫn vào trong đó – hiểu không?

Kì sau – 3 : CÂU ĐỐI THỜI CẬN ĐẠI – 4

Kì cuối – 4 : CÂU ĐỐI THỜI HIỆN ĐẠI – 5

Lê xuân Quang: Thịt mỡ – Dưa hành – CÂU ĐỐI… TẾT

Thịt mỡ – Dưa hành – CÂU ĐỐI… TẾT (1)

Lê xuân Quang

 

 Cứ năm mới đến, dân ta có thú chơi chữ – Câu Đối (CĐ), Hoành Phi (HP) . Đặc trưng của thể loại văn này như những lời chúc, mong ước hướng tới tương lai, thể hiện gia phong của những gia đình Việt thời xưa.

Hoành phi thực chất là bức thư hoạ chữ Hán, thẻ hiện theo phương nằm ngang (hoành), treo trên xà nhà, nơi thờ tự hoặc nơi trang trọng ở gian chính (đối diện với cửa chính ra vào nhà), còn câu đối thường theo phưong thẳng đứng (tung). Trước tiên nói về Hoành phi – Đại tự :

1- Hoành Phi – Đại tự

Hoành phi thường chỉ có từ 2, 3 hoặc 4 từ , chữ to dùng để treo ở  giữa, hai bên phải trái là các câu đối.  (Đại = To, lớn . Tự = Từ ngữ, chữ) – Gia chủ cho viết rồi thuê chạm khắc vào tấm gỗ qúy được trang trí nghệ thuật bằng khảm trai hoặc sơn son thếp vàng. Chữ đề trên Đại tự – Hoành phi là chữ Hán, thí dụ : Long phi (Rồng bay), Ẩn tư nguyên (Uống nước nhớ nguồn), Tích thụ kim hoa (Cây xưa hoa nay), , Quang minh chính đại…

Hoành phi vốn là loại hình ngôn từ mang tích thông điệp, định hướng nên được dân gian xử dụng nhằm mục đích răn dậy, để người đời hướng tới sự cao cả trong ứng xử làm người tốt, người quân tử . Thế nhưng các nhà Nho đôi khi cũng’’phá cách’’ – dùng loại hình văn hóa này chế diễu, phê phán, diễu cợt kẻ dốt nát nhưng hợm người.

Lấy một thí dụ:

Ở một Huyện kia, của tỉnh T… có viên quan huyện , vốn gốc gác dân nghèo, gia cảnh bần hàn, nhưng được người cha cố gắng phấn đấu kiếm sống để chu cấp cho con ăn học. Ông bố không từ ngành nghề naò – dù thấp hèn, nhếch nháchay bị dan cư’’chê’’ – kiếm tiền để cho con yên tâm học tập.

Dưới thời phong kiến xa xưa, dân ta coi nghề lái buôn không mấy lương thiện vì bản chất những người hành nghề này thường nói dối, lừa đảo, thớ nợ, có vậy họ mới thu nhiều lợi nhuân. Đặc biệt có 2 nghề là Lái trâu và Lái lợn bị khinh miệt trong nghề lái buôn.  Nông thôn Việt ta khi xưa có 2 con vật gắn bó với nông dân : Con trâu và con Lợn. Trâuđược xếp’’ con trâu là đầu cơ nghiệp’’ và con lợn – dứng hàng thứ hai sau trâu trong những gia súc được người nuôi, bởi Trâu phục vụ cho cầy cấy làm ra gạo nuôi sống người.

Con Lợn là nguồn thịt cung cấp cho đời sống, sinh sản ra đàn lợn con tiếp tục phục vụ cho kinh tế gia đình. Hai con vật này là mục tiêu’’đánh phá’’ của cánh lái buôn .

Ông bố kia thà chịu mang tiếng với đời đành bỏ mặc danh dự quyết đi buôn lợn để lấy tiền cho con ăn học… Kết qủa cậu con đã đáp ứng lòng mong muốn của người cha, làm rạng danh tổ tiên : Đỗ đạt, được bổ làm quan huyện.

Từ khi làm quan, anh ta quên ngay gốc gác mình, đổ đốn : Tham nhũng, thụt két, ăn của đút, hống hách với nhân dân. Vì có chút chữ nghĩa quan ta lại háo danh liền nghĩ ra cách để tự quảng bá mình – tổ chức một cuộc thi sáng tác Hoành phi, Đại tự, câu đối  – với chủ đề : Uống nước nhớ nguồn , mời những nhà nho, những nho sinh sáng tác không quên giao hẹn: Nếu tác phẩm của ai có giá trị nghệ thuật, hay, được chọn – sẽ hậu thưởng.

Rất nhiều bài thi – được thí sinh thể hiện bằng bút lực của chính tác giả – gửi tới. Trong số mấy chục bài thi ông ta chọn được đôi câu đối, 1 bức Hoành phi có tiêu đề Đại Lai. Bức đại tự này được tác giả viết  đúng như cổ nhân nói, chữ viết ’’như Phượng múa – Rồng bay’’.

Về hình thức không thể nào chê. Nhưng cẩn thận, quan ta cho gọi tác giả của bài thi đến. Khi người kia xuất hiện, quan thấy khó ưa ngay vì ông kia ăn mặc xuyềnh xoàng, không giống cách ăn mặc của nhà nho đương thời. Điểm khó chịu nhất: Từ người bốc ra mùi rượu nồng nặc… Tuy vậy quan và hai bạn đồng liêu không chấp nhặt, hỏi: Chúng tôi chọn bài thi của anh, nhưng trước khi trao giải, anh hãy giải thích về hai từ ĐẠI LAI !

Ông kia lấy những dẫn chứng từ thời cổ đại Nghiêu – Thuần bên Trung Hoa , đến Hán Vũ Đế, rồi qua Đường , Tống, Minh , Thanh để chứng minh cho hai từ mà mình viết ra với ý nghĩa gì… tác dụng răn dậy ra sao… Sau khi nghe nhà hùng biện thuyết giải… các vị đang bay bổng với ý nghiã siêu việt của ngôn từ… cuối cùng nhà nho kia mới bật mí : Đại  – nghĩa là Vĩ đại, To, Lớn.

Lai – nghĩa là đến, trở lai – ĐẠI LAi nghĩa là nhựng thứ to lớn sẽ đến với ngài trong tương lai! Ngừng một chút nhìn huyện  quan, ông ta tiếp: Những thứ to lớn kia – chính là chức tước,  phẩm hàm và nhiều bạc vàng …

Huyện quan nghe như rót vào tai, quay sang hai bạn tỏ vẻ ngầm hỏi… hai’’bạn vàng’’ tươi cười gật đầu… Quan ta gọi người nhà mang  túi tiền ra, trao cho’’tên bợm rượu’’ . Gã kia nhận, kính cẩn cúi chào – vái 3 vái rồi ưỡn ngực bước ra khỏi công đường huyện lị.

Cùng lúc, quan gọi người thư lại, ra lệnh : Cầm 3 mảnh giấy – đại tự và 2 câu đối – đi ngay đến làng nghề mộc tìm cơ sở cham khắc, thuê làm ngay phải xong trưóc tết nguyên đán. Bức đại tự và đôi câu đối sơn son thếp vàng. Để làm vừa lòng thượng cấp, viên thư lại dặn thêm: Chữ khắc to, đẹp cân xứng với căn phòng treo. Lượng vàng thếp trên chữ phải đủ độ dầy để hàng trăm năm không bị mòn phai… Nghệ sĩ chạm khắc vâng dạ, hứa sẽ làm đúng như yêu cầu của quan.

Hai tuần sau nhóm thơ mang sản phẩm đến treo lên gian giữa đối diện với cửa ra vào. Chữ Đại Lai  – to, sáng rực căn phòng. Chủ nhà ngắm nhìn rạo nrực niềm mãn nguyện, tự hào về sáng kiến của mình…

Nhân một lần, quan Tuần phủ – cấp trên trực tiếp của Huyện quan – có việc về huyện công cán. Việc công xong, quan Tuần nói : Ta nghe nhiều người ca ngợi bức đại tự của anh lắm. Ta muốn đến chiêm ngưỡng – được không ?

Huyện quan vui như mở cờ trong bụng kính cẩn mời Tuân phủ về nhà.

Bước chân vào cửa, mắt quan Tuần sáng lên, rồi từ mỉm cưòi chuyển sang cưòi to, cười ngặt nghẽo… Quan Huyện ngạc nhiên: Thưa ngài điều gì làm ngài vui thế ?

Quan Tuần chưa trả lời – vốn biết lí lịch của hạ cấp – hỏi: Bức đại tự này ai tặng hay chính do anh tự nghĩ và làm ra?

Quan Huyện kể lại chuyện có bức ĐT…

- Cóphải người  nhận giải thưỡng tuổi chừng… ăn mặc lôi thôi, sặc sụa mùi rượu?

- Thưa đúng người này – quan huyện xác nhận.

- Đó chính là Cử H… rất giỏi chữ, nhưng tính khí ngang tàng…được người đời gọi là’’Ngô chữ’’!

Mắt quan Huyện sáng lên, mặt tươi rói…

Dường như để cho y ta vui chút xíu, quan Tuần mới  tiếp : Lão ta đã chơi xỏ anh đó !

- Dạ, thưa… tôi chưa hiểu ý ngài.

- Anh hãy đọc to hai chữ kia đi… vậy được rồi, giờ đảo nghiã hai chữ ấy – đọc lại đọc to lên xem – Viên quan huyện thực hiện – ĐẠi LAI  – LỚN lẠI…

Anh ta tái mặt, run rẩy… .

Thấy đã đủ làm cho kẻ háo danh sáng mắt, viên Tuần phủ nhẹ nhàng an ủi hạ cấp: Đây là sự nhạo báng, nhưng là sự nhạo báng có chủ đích, đáng trân trọng. Cử H… đã nhắc nhở anh : Đừng quên cội nguồn. Tổ tiên anh vốn là Lái lợn (lớn lại). Anh từ trong nghèo hèn đi lên. Hãy nhớ đến qúa khứ làm nhiều điều thiện, điều tốt cho dân… Ngừng lại một chút, ông tiếp : Vả lại, được ‘’Ngộ chữ’’ cho chữ, dậy dỗ đáng là vinh hạnh đó!

Viên quan Huyện đành’’ngậm bồ hòn làm ngọt’’ vâng dạ, hưá với quan trên sẽ thực hiện lời chỉ bảo này…

Berlin – Tết Nhâm Thìn 2012

LXQ

( Kì 2  : Câu đối Việt Nam thời cổ đại – trung đại)

NỮ SĨ ANH THƠ Với mùa xuân Quê hương Việt Nam

NỮ SĨ ANH THƠ  Với mùa xuân Quê hương Việt Nam

Lê Xuân Quang

Tiểu luận

 

Có rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác về đề tài mùa xuân quê hương Việt Nam. Các tác phẩm đó (văn – thơ – nhạc – hoạ) đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, gười nghe, người xem. Một trong những người nghệ sĩ tài năng là Nữ sĩ Anh Thơ (tên thật Vương Kiều Ân) .

Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn Việt nam với tập thơ Bức Tranh Quê (1937), Bà Vương Kiều Ân (Anh Thơ) đã được người đọc đương thời mến mộ, thi đàn kính nể. Tổ chức Tự lực văn đàn – một tổ chức do 7 Nghệ sĩ tài danh trong giòng Thơ Mới Việt Nam đương đại – đã vinh danh , trao giải khuyến khích cho tập Bức Tranh Quê vào năm 1939 kjhi bà nới 18 tuổi. 

Bức Tranh Quê chỉ có 48 bài, mổi bài – phần lớn 3 khổ – viết theo thể thơ thất ngôn và thơ tự do – tám chữ. (Vì nằm ngoài nguyên tắc của những thể thơ truyền thống nên thơ 8 chữ được thời đó cho là thơ Mới). Cả tập thơ là một bản trường ca về thôn quê Việt Nam trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông.

Mở đầu là bài Chiều Xuân (được Hoài Thanh tuyển vào Thi Nhân Việt Nam năm 1942). Bằng 4 câu miêu tả, hiên ra khung cảnh buổi chiều mùa Xuân trên một bến đò ở thôn quê vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam – năm xưa:

Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng.

Ðò biếng lười nằm mặc nước sông trôi

Qúan tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm soan, hoa tím rụng tơi bời.

Ở miền Bắc, mùa xuân ẩm ướt, thường có mưa bụi dân gian gọi là Mưa xuân. Khí trời ấm lại sau hơn 3 tháng mùa Ðông hanh khô, rét ngọt. Mưa nhe khiến cây cỏ, hoa lá, đồng lúa tươi xanh mơn mởn.

Bến đò này nằm trên bờ con sông không qúa lớn nối từ 2 sông Cái (sông mẹ) vào. Mưa xuân kéo dài triền miên nhiều ngày khiến đường lầy lội, người , súc vật đi lại thưa vắng.

Con đò được neo giữ, như kẻ ’’biếng lười’’ nằm mặc nước sông trôi khiến thân đung đưa, vật vã mà chẳng thèm cưỡng lại. Mưa xuân, Trên đường không có người đi . Mấy quán hàng mái tranh, trên bến đò – đứng im lìm đón khách.

Trên bờ sông có con đê nhỏ.

Dưới chân đê lưa thưa vài mái tranh nghèo nép bên dưới rặng soan. Trên cành soan, đây đó buộc những chiếc tổ sáo do các cậu bé lây phên rổ (rổ bị hỏng, rách) – quân lại, dụ sáo vào đẻ, bắt sáo non về nuôi, dậy sáo nói. Hoa Soan nở… những chùm hoa tím thơm hắc… ’’rụng tơi bời’’ xung quanh gốc, vương vãi khắp nơi khiến cả một vùng hương thơm ngào ngạt.

Từ bến đò, hướng nhìn lên trên mặt đê, về phia xa xa :

Ngoài bờ đê cỏ non tràn cỏ biếc

Ðàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gío

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Trên bề mặt đê, hai bên lối đi, ”cỏ non tràn cỏ biếc”.

Cỏ non mới nở.

Cỏ biêc đã nở được nhiều ngày.

Trong vạt cỏ, côn trùng các loại cùng nhau sinh sống. Những con Sáo có đôi mắt tinh tường, có thói quen nhận biết từ cuộc sống của mình nên tìm đến bãi cỏ kiếm mồi về nuôi đàn con đang há mỏ đứng trong miệng những cái tổ – đặt trên các cây soan gần đó – thò cổ, réo gọi bố mẹ. Nhìn lũ sáo mổ chổ này, chô kia… tưởng chúng mổ ”vu vơ” nhưng thực ra chúng mổ rất trúng con mồi, mắt thường của con người không nhìn thấy.

Thỉnh thoảng cơn gió đông ào tới, những con bướm đang bay bi gió thổi, không chịu được sức đẩy, chúng phải gượng chống… Khi làn gió tan, cánh bướm lại trở về vị trí cũ. Trông cứ như cánh bướm đang nắm trên mặt nước bị sóng xô khiên hình ảnh trở nên ”rập rờn”. Lát sau làn gió cũ tan, gió mới tới, những con bướm đã di chuyển tới vị trí khác và cảnh cũ lặp lại.

Sau vụ cấy, những con trâu kéo cầy kéo bừa mất sức, gầy đi. Giờ đã cấy xong, thư rỗi, người chủ có thời gian rảnh chăm bẵm cho trâu lấy lại sức chuẩn bị cho vụ tới. Chúng được dắt ra bờ đê cho ăn cỏ tươi. Ðối với trâu, bò, cỏ non tươi của mùa xuân chính là bữa tiệc. Trời cư mưa, trâu cứ lăng lẽ liếm vạt cỏ trên đường. Chiêc lưỡi và hai hàm của nó lia liếm, cắt, nhai cỏ, phát ra tiếng sột soạt. Ðứng từ xa nhìn hạt mưa loang loáng rơi bao trùm cậu bé ngồi trên lưng Trâu, trùm kín trong chiến nón và áo tơi lá xòa che cả lưng trâu(3) – cứ tưởng trâu đang ”ăn mưa”.

Ðưa mắt nhìn xuống chân đê : Ðồng lúa xanh tươi. Gio đông thổi lúc nhẹ lúc mạnh. Ðây đó, thỉnh thoảng thấy bóng người mặc áo tơi nón lá, cặm cụi làm việc trên cánh đồng:

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng

Lũ cò con, chốc chốc vụt bay ra

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

Cúi cuốc cào, cỏ ruộng sắp ra hoa.

Lúa non. Lá cây được mưa xuân tưới đẵm như kích thích sinh trưởng.

Mới tháng đầu của mùa xuân, lúa đang chớm Thì con gái. Gío nhẹ, đồng lúa như tấm thảm lụa, được gió đông thổi khiến thảm lúa xanh rờn như làn sóng lúa…

Ðể giúp lúa có đà lớn ra hoa kết hạt đúng thời vụ, nông dân phải làm cỏ ở dười gốc. Nếu để cỏ phát triển sẽ hút hết chât mầu của đất làm lúa chậm lớn, ảnh hưởng tới sự phát triển của cây. Công việc này đòi hỏi sự nương nhẹ, khéo tay, bền bỉ – vì cây lúa rất mảnh dẻ nếu đụng mạnh vào gốc, đứt rễ, cây bị thương tích chột đi, ảnh hưởng tới làm đòng – tạo ra hạt lúa mẩy sau này. Công việc làm cỏ dưới gốc lúa đang phát triển – đòi hỏi đức tính kiên trì, tỉ mẩn, cần bàn tay khéo léo, nhe nhàng… cho nên việc cào cỏ chỉ giành cho các mẹ, các chị.

 

Cũng trong khung cảnh, thời gian lúa đang con gái, lũ chim cò, chim cút thường lẩn dưới gốc lúa tìm mồi. Khi ”cô nàng yếm thắm” đưa chiêc cào cỏ tới gần.., lũ chim sợ, vụt bay lên. Cánh chim quạt gio đập phải lá lúa kêu đánh ”soạt”: Người và chim đều giật mình!

 

Với 3 khổ thơ, 12 giòng, 96 chữ, Nữ sỹ Anh Thơ đã miêu tả – vẽ Bức Tranh Quê Việt Nam như bức tranh Thủy mạc diệu kỳ. Người đọc Việt ở bất cứ đâu, của bất cứ thời đại nào , khi đọc lại Chiều Xuân – Bức Tranh Quê cũng đầy cảm xúc vê Mùa Xuân Quê Hương!

Berlin – Mùa Xuân 2012

LXQ

—————————-    

(1)Thơ cũ thường quy tụ ở các thể : 7chữ, 8 câu (Thất ngôn, Bát cú – Đường Luật). Sáu Tám (Lục bát). 5 chữ (Ngũ ngôn), 7 chữ (Thất ngôn), hoặc Song thất lục bát (hai câu 7 chữ, tiếp theo 1 câu sáu, 1 câu tám). Thơ cổ còn dùng một thể khác chỉ có 6 chữ (thơ Vua Lê Thánh Tông)- Hiện nay các nhà thơ ít dùng thể loại này.

(2) Bà tên thật là Vương Kiều Ân, but danh Anh Thơ. Bà sinhn năm 1921 – mất năm 2005 thọ 84 tuổi.

(3) Loại áo tơi này làm bằng lá gồi lợp nhà. Hình lăng trụ. Choàng vào y hệt chiếc váy đầm của phụ nữ. Loại áo tơi này chống nóng, nắng, mưa, rét – rất hữu hiệu, tuy cống kềnh và nặng.

 

truyện ngắn Lê Xuân Quang: THIẾN SÓT

THIẾN SÓT (*)

Truyện Ngắn

(Tưởng Nhớ Hoàng Xuân H…10 năm  về cõi vĩnh hằng)

Vài lời phi lộ của tác giả:

Thấm thoát đã 10 năm bạn tôi Hoàng Xuân H – ra đi về cõi vĩnh hằng (23 tháng chạp năm Nhâm Ngọ – 23 tháng chạp năm Nhâm Thìn). Cái chết tức tưởi của bạn làm tôi phân vân trước lí thuyết Tướng số , Nhân quả, Tái sinh khi những hiện tượng kì lạ vẫn thường xuất hiện đây đó trong cuộc sống hàng ngày mà không thể giải thích được…Tôi đã’’chép’’ hầu như nguyên vẹn sự kiện xẩy ra với H… (nhân vật Hoàng) – ở cái tết mưòi năm trước. Từ không gian, thời gian sự việc, hành động trong truyện đúng như những gì tôi được nghe H… kể lại trước khi đột ngột về với cát bụi trong một tai nạn thảm khốc…

 

Truyện Thiến Sót phản ánh chân thực sự việc đã xẩy ra đối với H (nhân vật Hoàng), tôi chỉ xắp xếp về văn phong cho khỏi’’thô, ráp’’ nhằm đạt được tiêu chí của một Truyện Ngắn!

Đã nhiều lần tự hỏi lòng :  Có’’Ma Gà’’ , không ? Liệu trong đám… Gà kia có những’’linh hồn Người’’ –  nhập vào, đi đầu thai chuyển kiếp, bạn tôi đã ngăn trở niềm hi vọng của họ ? Kết quả oan hồn tích tụ –  biến thành Ma – trả báo người bạn tội nghiệp kia – chăng?…

xxx

Tết đến, hầu như mọi gia đình người Việt, mọi bếp Việt đều làm mâm cỗ có thịt gà, bày lên bàn thờ cúng gia tiên. Con gà đối với đời sống dân ta thật gần gũi, thân thiết.. Chính vì vậy , khi bị dịch cúm H5N1, khi thị trường – vì lí do này hay khác – không cung cấp đủ thịt gà cho nhu cầu tiêu thụ, khiến cái tết của dân gian giảm đi sự kính cẩn, thoả mãn. Xung quanh chuyện ’’con gà’’ đã xẩy ra khá nhiều điều đáng suy nghĩ…

Xin kể một trong vô số chuyện đó !    

Đồng nghiệp Hợp tác lao động của tôi – vốn sinh ra, lớn lên ở một huyện trọng điểm lúa của tỉnh Nam Định. 20 năm đầu của cuộc đời, anh  ở quê với bố mẹ. 15 tuổi đã phải cùng cha, anh kéo cầy, kéo bừa thay trâu vì sau Cải Cách Ruộng Đất (1957), làng anh trâu chết khá nhiều khiến thiếu sức kéo, dân nghèo phải thay trâu làm cái việc cần thiết để cắm cây lúa xuống ruộng, đến mùa có thóc, có gạo mà chống đói.

Năm 1962, tròn 20 tuổi, anh Hoàng – tên ông – xung phong đi nghĩa vụ quân sự . 14 năm coi kho ở trong rừng Trường Sơn, anh trở thành ”người rừng” đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bù lại – vì để giải trí cho đỡ buồn trong những ngày cùng 2 đồng đội sống trong rừng – anh lấy săn băn làm thú vui, giải trí. Và thế là chim, gà, lợn, hoẵng ở một góc rừng Trường sơn đã là nạn nhân của Hoàng. Chúng mang thân mình để giúp anh trở thành nhà thiện xạ môn bắn nỏ. Nỏ tự chế -chứ không phải súng. Bởi vì giữ bí mật tuyệt đối cho kho quân trang quân dụng, cấp trên nghiêm cấm nổ súng nếu không phải bị kẻ địch tập kích.

Cuộc chiến tranh gian khổ kết thúc (1975), năm sau ông Hoàngđược chuyển ngành.

Đi lính chỉ biết tìm kế giết muông thú, văn hóa mới hết cấp 2, bây giờ thì ngại học, căn cứ nguyện vọng, chế độ ưu tiên, cơ quan Quân lực cho ông chuyển về ngành Lâm Nghiệp vì biết ông đã từng nhiều năm ở rừng (Chắc là anh này hiểu rõ về rừng – họ nghĩ thế). Nhưng cơ quan chủ quản không thể bô trí ông vào đâu, ngoài phòng bảo vệ văn phòng Tổng công ty. Nói cho có vẻ oai, thực ra đó là anh lính gác cổng không quân hiệu. Tuy vậy, ông vẫn vui, hào hứng chẳng khác nào hai lần trước: Cầm quyết định đi Nghĩa vụ quân sự và lên đường vào rừng sâu coi kho. ”Ngồi trong rừng ngắm cây chán rồi, bây giờ được ngồi giữa phố phường ngắm… Người – cũng thú ” – ông tự an ủi mình.

Tưởng cứ thế trôi tuột 20 năm thứ 2 của cuộcđời. Nhưng giữa năm 1981, nhà nước có chủ trương cho công nhân viên đi Hợp Tác Lao Động ở 4 nước XHCN Đông Âu. Biết tin, tự dưng trong đầu ông Hoàng xưất hiện ý nghĩ : ”Sao minh không đi một chuyến cho biết đó biết đây. Ở mãi cái chòi gác này – (ông gọi phòng thường trựcở cổng cơ quan như vậy) – cứ mụ mẫm cả đầu. Đi, vừa được biết xứ Tây làm ăn ra sao… lương bổng chắc khá hơn.. lại không sợ người ta đuổi về quê tiếp tục ”theo đít trâu” (đi cầy) – khi mà cơ quan văn phòng đang gióng lên hồi chuông giảm biên chế!

Chưa kịp lên gặp lãnh đạo bầy tỏ nguyện vọng, trưởng phòng Lao Động – Tiền lương đã đến tận ”chòi gác” gợi ý cho đi. Thế là đầu năm 1982, ông vác ba lô lên đường đến đông Đưc (DDR) Hợp Tác Lao Động.

Hai mươi năm thứ 3 của đời ông bắt đầu như thế.

Trong môi trường mới, ngoài giờ lao động ở xưởng, cánh thợ trẻ đua nhau tập tễnh ”buôn thúng bán bưng”. Ông Hoàng thấy ”hay hay” cũng bắt chước. Thay vì may quần áo bò đóng Mác giả, đổi ngoại tê USD, D. Mark ăn chênh lệch – cho dân bản xứ… Ông quyết định”thi triển” ngón nghề tuyền thống của mình: Đến lò mổ của thành phố‘’khai thông nguồn hàng’’ bằng chai rượu Vodka Nga. Người quản đốc niềm nở đón tiếp ’’đối tác’’ vì đã giúp mình xử lí đám vật dụng phế thải. Họ vui vẻ thoả mãn yêu cầu của Hoàng : Sáng sớm thứ 5 hàng tuần cấp cho ông dăm cỗ lòng lợn, tiết , dạ con – đã được ông hướng dẫn thợ mổ ’’hãm’’ đúng kỹ thuật, đựng trong can nhựa đủ dánh tiết canh, tiết luộc và nấu cháo lòng phục vụ đồng hưong của mấy khu tập thể người Việt. Món ăn khoái khẩu chế biến từ lòng lợn đã nhanh chóng ”thu phục” tất cả gìa trẻ lớn bé người Việt trong vùng.

Lúc đầu chỉ là đáp ứng sự khoái khẩu, ít lâu sau họ đâm nghiện, trở thành nhu cầu hàng tuần của những người vốn đã ngán các loại thịt . Ông Hoàng trở thành ”Thợ” và biệt danh Hoàng Tiết Canh xuất hiện từ đây. Điều thú vị hấp dẫn ông ngày một mạnh từ lòng lợn – thứ dân Đức cho là phế thải – chính là khoản tiền chế biến ’’Phế thải’’, tiền thu được trong 2 ngày cuối tuần bằng lương đi làm cả tháng.

Năm 1990 nước Đức thống nhất. Không như nhiều người khác nhận tiền bồi thường tự nguyện trở về Việt Nam, ông Hoàng vẫn trụ lại tạo dựng cơ nghiệp . 1992 đưa vợ và 4 con – hai trai hai gái – sang sống cùng. Có an cư mới lạc nghiệp, ông luôn tâm niệm đạo lý này. Nghĩ thì như thế, nhưng từ suy nghĩ đến thực hiện còn một khoảng cách. Hai vợ chồng 4 đứa con, có hai đứa gái đã lớn, không thể không có buồng riêng cho chúng. Thế mà tìm được căn nhà 4 buồng tiền thuê không dưới 1500 Mác một tháng. Tính nhẩm, so sánh : Mỗi tháng tiền thuê nhà quy ra xấp xỉ 1000 USD, hơn 2 lượng vàng. Một năm… mười năm… ôi chao số tiền, số vàng đâu ít. Nếu để ra, tích luỹ hay biết bao ! Lại nữa, được sống trong căn nhà của mình… ở đâu thì đầu tư vào bất động sản cũng lãi nhất. Ông quyết định mua nhà !

Một người bạn, mách, có mảnh đất hơn 1000 mét vuông cùng ngôi nhà cổ muốn bán. Hơn 10 năm lao động, tháo vát, tằn tiện, đã để ra ít tiền. Hợp ý nghĩ đang nung nấu trong đầu – ông tức tốc đến xem mảnh đất kia.

Khu đất vuông vắn, nằm sát cạnh bến xe Bus.

Nhà tuy cũ nhưng tường mái còn khá tôt, ngoài tầng ngầm và tầng áp mái, tầng 1 có một phòng chính có thể làm cửa hàng. Tầng hai – 6 phòng, đủ chỗ ở cho vợ chồng con cái . Ông đã vừa ý, đi ra vườn xem: Khi đứng giữa vườn, thọc bàn tay cứng như lưỡi mai xuống đất rồi nâng lên, nắm nắm lai như nắm cơm. Vốc đât nhiều như thế mà sau 3 lân chim chim – chỉ còn một cục to bằng qủa trứng vịt. ”Chà… chà…” – ông tấm tắc ca ngợi chất xốp của đất này.

Đưa mắt lia nhìn qua hàng rào – ngay bên cạnh cổng vào – người đến chờ xe Bus đông nghịt. ”Nhất cận thị, Nhị cận giang” – Ông Hoàng nghĩ vội tức tốc kí kết ngay hợp đồng mua với chủ. Chỉ sau 4 tuần chạy đôn chạy đáo, vay mượn thêm… vợ chồng cùng đàn con đã chuyển về nhà mới.  Tuy gía mua đắt hơn so với chỗ khác làm vài bạn chê , ông Hoàng gạt phắt :’’Tiền nào của nấy – Đắt xắt ra miếng’’ – rồi các ông xem !…

Có đất, có nhà, việc đầu tiên – tiếp tục thực hiện kế hoạch : Vay thêm đám bạn ít tiền, sửa chữa tầng trệt thành cửa hàng dạng Bách hóa tổng hợp: Phần bên trái bày bán quần áo đồ chơi trẻ em, đồ  lưu niệm. Phía bên kia đối diện – bán nước uống, rau hoa qủa, đồ hộp, khô. Khoảng trống ngay cửa ra vào được trang hoàng đẹp để bán cà phê, đồ ăn điểm tâm phục vụ dân buổi sáng đứng chờ xe Bus đi làm. Địa điểm này nằm ở rìa thành phố, quán hàng là loại ”bách hoá”, cung cấp đủ nhu yếu phẩm cho cư dân nên khách mua ngày một đông. Chỉ sau 2 năm chăm chỉ, tằn tiện, chẳng những mọi khoản vay đã trả hết mà còn dư thừa tích lũy.

Vào thời điểm những năm giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng quần áo may sẵn gía rẻ của người Đức gốc nước ngoài tăng lên. Một số người Việt có tiền vốn, nhậy bén trước thời cuộc, quyết định hùn nhau mở một trung tâm buôn bán để thoả mãn các loại khách hàng không khó tính, túi tiền chưa được rủng rỉnh. Ở Trung tâm này không thể thiếu cửa hàng thực phẩm châu Á. Dạo đó một ký mồng tơi, rau đay, các loại rau mùi… phải nhập từ Thái Lan, đắt ngang 1 kg thit lợn thăn, thit bê (1). Ông Hoàng nhận ra ngay vấn đề… lặng lẽ bay về thăm nhà rồi thực hiện ý đồ. Chỉ trong vòng 2 tuần vừa ăn tết vừa chuẩn bị, khi trở lại Đức đã có trong tay tất cả những hạt rau – thứ mà dân ta bên châu Âu rất ưa thích.

Lúc đầu gieo trồng cũng không suôn sẻ vì thời tiết, thung thổ… Sau vài vụ thất bát, ông chuyển sang ”thâm canh” và thành công, trở thành người cung cấp rau tươi châu Á cho các cửa hàng bán lẻ trong vùng. Rau muống, mồng tơi, rau đay và những thứ rau thơm – dễ héo hỏng trên đường vận chuyển từ châu Á sang, giờ không còn là món ăn cao cấp đối với người Việt. Điều thú vị hơn: Rau ông trồng do lấy giống từ bên nhà sang nên mùi vị thơm, đậm đà hơn hẳn rau nhập từ Thái Lan, Hà Lan. Quan trong nhất: Gía bán ha xuống chỉ còn một phần ba. Các chủ hàng thấy lợi bèn bỏ hợp đồng cũ, ký ngay hợp đồng ”Cung cấp rau tươi” với ông. Mảnh đất trồng rau được trang bị hiện đại, chăm bón đúng quy trình kỹ thuật của ngành trồng trọt Hà Lan… cộng với bí quyết trồng rau – mà từ bé ông đã học được kinh nghiệm của bố mẹ hồi ở quê nhà… Kết qủa chất lượng, sản lượng rau trong mảnh vườn gần 3 sào kia được thực hiện luân canh khiến sản lượng – tăng vọt. Ông chủ giầu lên nhanh chóng.

Để cung ứng kịp thời và thoả mãn nhu cầu cho bạn hàng, cứ vài ngày ông lại đảo qua Trung tâm – Siêu thị – vừa thăm bạn vừa nghe ngóng, thu thập ý kiến của họ nhằm phục vụ tốt hơn.

20 tết Nhâm ngọ 2002, ông đến mua sắm tết. Trước cửa ra vào có đông người tụ tập, mỗi người cầm một túi nặng. Thấy hơi lạ, ông hỏi một người đàn bà trên tay xách 3 túi hàng, chị kia đáp hối hả: Gà trống có đầu, mào to… 2 kí lô… bác vào nhanh…

- Tưởng gì – ông vỡ lẽ, tiến đến sát quầy hàng, nhin vào: Trong chiếc thùng lớn chỉ còn lại mươi con gà đã làm sạch. Con nào con nấy nguyên vẹn cả đầu, chân, mào to. Cậu bán hàng – là chỗ quen biết – thấy ông vội đon đả: Bác mua đi kẻo hết, trên 2 kí lô cả đấy.

- Có gì mà quan trọng thế. Trong Metro đầy (cửa hàng bán buôn) – ông nói đại.

- Ô, bác nói thế nào ấy chứ. Trên nước Đức làm gì có bán gà trống, cả đầu, chân, trong bụng có nguyên cả cỗ lòng…(2)

- Ờ…đúng… – ông vờ… vỡ lẽ, chữa thẹn – bao nhiêu tiền môt con?

- 20 Đê (D.Mark).

- Đắt thế? Gấp 4.

- Nếu bác có, cửa hàng sẵn sàng nhập với gía 18 D.M/con, nhưng phải từ 2 kí lô trở lên. ”Một gợi ý hay”. Trong đầu ông vụt loé sáng… Vừa lúc tốp gần chục người nữa tiến vào, ông nhặt vội một con, tốp người kia nhặt nốt những con cuối cùng.

Đúng là lần đầu tiên mua được con gà trống nguyên vẹn to như vậy. Bà vợ nhìn thấy còn vui hơn, nhưng trách – Sao không mua mấy con.

- Ôi. Đắt qúa. Gà nào mà chả cúng được. Tuy nói cho qua nhưng khi bà vợ luộc con gà kính cẩn đặt lên bàn thờ, ông mới thấy tiếc. Cạnh mâm ngũ qủa, con gà trống da vàng rượm, đầu ngênh ngênh trên mỏ cắm thêm bông hoa hồng bằng nhựa đỏ tươi.. Hai chân đệm dưới bụng, nằm bệ vệ trên chiếc đĩa đường kính 35 phân, Hai bên hông gà đặt 2 đĩa xôi gấc đỏ, cặp bánh chưng, cây giò lụa, hai khoanh chả quê cùng chồng mứt tết, mấy chai rượu vang đỏ, trắng. Đèn nhang nghi ngút. Gà vàng, xôi gâc, chả quế đỏ, bánh chưng xanh… khi đứng thắp hương, nhìn – ông mới cảm nhận được tâm trạng của những người sẵn sàng bỏ số tiền hơn 4 lần để mua con gà về đặt lên bàn thờ trong ngày trọng đại cuối năm.

Chợt như nhớ ra, ông kính cẩn vái 3 vái, miệng nhẩm khấn đoạn đi sang buồng khách bấm số điện thoại. Đầu bên kia có người nhâc máy. Ông Hoàng noí oang oang bằng tiếng Đức không mấy sõi: Tôi cần mua ngay vài trăm gà trống, loại từ 2,5 Kg trở lên. Có không?

- Không. Cả gà mái thì có thể. Nếu 10 ngày sau thì được – người kia từ chối.

Ông Hoàng tư lự dây phút: Còn ba ngày nữa là Táo quân chầu trời. Mùa này ở Đức lung mua cá chép tươi hơi khó, dân ta đành dùng gà thay thế. Tuy còn phân vân về gà mái gà trống. cuối cùng ông chép miệng – ”Trống, mái đều được, miễn là tươi, gà có đầu, có lòng” – ông vội tiêp: Gíađổ sô bao nhiêu ?

- 4,5 D.M. Nếu mua từ 100 con trở lên. Mang đến tận nơi, thêm 0, 5 D.M/ con.

- Phải đảm bảo không dưới 2,5 Kg/ con – đấy nhé.

Bạn cam đoan.

Ông Hoàng cúp máy, quay số khác gọi tiếp cho những cửa hàng bán buôn bán lẻ thông báo, ướm hỏi… bạn hàng đều đồng ý nhập. 30 phút sau mọi việc ổn thoả, quay ra thu dọn, che chắn, chuẩn bị cho nơi tập kết hàng. Một ý nghĩ thoáng qua… ông chậc lưỡi gạt phắt trước món lợi một vốn bốn lời – ”Chỉ trong vòng 1 đêm chắc không sao” !

Khi công việc chuẩn bị vừa xong thì chiếc xe chuyên dụng của ông chủ trại gà cũng táp vào trước cổng. Gà lần lượt thả vào góc chuồng, góc kia có mấy chục con do ông đang nuôi. Tất cả mọi nhân lực hiện diện trong nhà đều sẵn sàng đợi lệnh của ông chủ.

Trời bắt đầu tối.

Mùa đông ở châu Âu tối rất nhanh. Căn phòng này rộng, được cấu trúc đặc biệt, khi cần có thể thay đổi chức năng. Ông cho bật đèn sáng trưng, hối thúc các con trai gái, dâu, rể tương lai – tổng cộng 8 người – bắt tay vào việc. Đầu tiên là cắt tiết làm lông. Giống gà nếu chết rồi mà tiết vẫn còn trong cơ thể, khi luộc chín, thịt sẽ thâm không đẹp, ăn tanh, không ngon. Mỗi con vẫn phải hấng lấy tiết để luộc, kẹp vào cỗ lòng cho đủ bộ, thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật giết mổ, đáp ứng sở thích của khách hàng.

Thế nhưng mọi tính toán chi tiết khoa học đến mấy, trước những biến động ngoại lai có khi cũng làm người ta bị động. Trong số 40 con gà đang nuôi, có 10 con trống do đích tay ông mới thiến với mục đích để giữa năm sau làm cỗ cươi cho con gái. Còn 10 con trống nguyên nuôi để cho 20 con mái lấy giống gà con. Tai hại là trong này có mấy con thiến sót. Cái giống thiến sót rất kỳ la. Lúc ”tính mái” thuần thục thì chú thiến sót nhà ta hiền lành, chẳng quan tâm đến xung quanh. Có khi đang ăn, mấy con mái ”đành hanh” đến tranh ăn, mổ… chàng thiến sot cũng quay người bỏchạy.

Lúc ”tính trống” trỗi lên chàng ta cố gắng chưng tỏ ”Namnhi đại trượng… Trống”, do vậy các biểu hiện bên ngoài thể hiện rất rõ: Lừ lừ, gườm gườm đi đên cạnh con mái, duỗi chân gạ… đạp. Nhưng chỉ có đến thê chứ không hơn. Có luc chú ta lại dạng chân vươn cổ, gật gù… gáy. Khốn khổ,tiếng gáy có ra tiếng gà trống đâu, nghe khè khè… ẹt… ẹt… vì chỉ còn sót lại tí chút… Trống – nên gịong đã biên dạng .

Như đã nói ở trên, gian chuồng gà đã che kín bưng, ông Hoàng cho bật 2 ngọn đèn cao áp thủy ngân 1000 wat sáng như ban ngày. Chú thiến sót thấy đông, ồn ào xung quanh, tưởng đã sáng, dạng chân vuơn cổ gáy. Những con Trống thuần chủng dường như nhận biết ra. Thoạt tiên vài con loại ít cân nhất – ”Trống choai” – trong đám, ngẩng đầu, mắt chớp chớp rồi như tưc mình – ”Thằng nào gáy vậy mà cũng học đòi. Nghe đây – Ò óo… oooo…”.

Chà, gáy thế mới là gáy chứ!

Khi tiêng gáy thư thiệt cât lên, làm náo động cả đàn . Ngạn ngữ noi chẳng sai ”Gà tưc nhau tiếng gáy”. Thế là những con khác ngểnh cổ, dạng chân, đầu gật gù tranh nhau, thi nhau, nối tiếp nhau đáp lại. Âm thanh của những tiếng gáy thứ thiệt, của những chú trống choai, trống vừa, trống gìa ”Originan” cất lên làm náo động cả một đoạn phố…

Lúc này đã 12 giờ đêm, dân cư trong vùng bắt đầu yên giấc. Ông Hoàng tái mặt, lo sợ… lo sợ hơn cả những lúc trong đời đã từng gặp nỗi lo sợ. Luật của nước Đức rất nghiêm. Người ta quy định rõ những nơi được, không được phép nuôi, giết mổ gia súc trên quy mô lớn. Trong tuần chỉ từ thứ 2 đến thứ 6 được ”ồn ào vừa phải” từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối. Bây giờ, chủ nhà đã phạm cả hai lỗi: Mất vệ sinh, làm ô nhiễm môi trường và ồn ào. Hốt hoảng, ông hô vợ con:

- Bỏ mọi việc, ngăn cản không cho chúng gáy.

Bà Hoàng và đám con cái không biết làm sao để chỉ huy cho gà không gáy… đâm lúng túng chưa biết phải làm gì … ông Hoàng chợt nghĩ ra, hô tiêp:  Cắt tiết… không kịp… đập chết những con gáy đi!

Hai ông anh vợ cùng hai chú em rể tương lai thi hành lệnh răm rắp.

Gía lũ gà biết sợ như người thì đã đi một nhẽ. Đằng này chúng tỉnh bơ, cứ… gáy… gáy! Ông Hoàng sốt tiết quơ thanh gỗ dựng trong góc phòng, nhẩy tót vào giữa đàn gà – (suýt dẫm chết mấy con mái đang lớ ngớ dương mắt chớp chớp với vẻ ngạc nhiên – nhìn…) – vung thanh gỗ nhằm những con trống đang vươn cổ, xoè cánh sắp gáy – phang vào đầu. Nhiều con vỡ sọ tắt lịm. Có con rất ”quái”, khi thanh gỗ vừa tới gần, nó đã thụt đầu xuống, chúi vào cánh, vào háng con mái đứng bên cạnh. Con mái dường như chưa biết chuyện gì xẩy ra cứ đứng nguyên, loạng choạng – kẹp đầu chàng trống kia dưới đùi, dương mắt chớp chớp nhìn. Nhát phang thât có nghệ – đầy ”chưởng lực âm nhu” – nhìn chỉ như phẩy ruồi, ấy thế mà (con trống đã tránh) – nhát phang trúng đầu con mái, kêu đánh rộp… óc tứa ra …

Vẫn không thể ngăn kịp những con khác. vả lại không cắt tiết xuể. kịp – ông Hoàng quát: Lấy sợi chun thít cổ những con gáy lại, tiếp tục cắt tiết. Nhanh! Nhanh lên!

4 chàng trai hùng hục lao đến chỗ để dụng cụ đồ nghề, chộp nhanh nắm dây chun – được nền công nghiệp hiện đại Đức chế tạo, tuy nhỏ nhưng dai, bền một cách đặc biệt – thi hành lệnh, gọn, chuẩn xác.

Những con gà tội nghiệp chẳng những không thể kêu, gáy mà chỉ còn dẫy dụa, nghẹt thở, chưa chết nhưng lịm dần. Đống gà chợt chộn rộn… có con ngắc ngoải nên phát ra tiếng kêu….  

Phải đến mệnh lệnh này ông Hoàng mới dẹp được cuộc đua nhau gáy của lũ gà. Cũng may bọn chúng mới chỉ gáy được ít phút lại bị ngăn cản. Chuồng được quây kín, dân xung quanh chưa kịp thức giấc, chưa kịp nổi xung vì có anh hàng xóm phá rối giấc ngủ mà gọi điện cho cảnh sát. Sự náo động chưa đủ đánh thức xung quanh…

Đột nhiên trong đống gà có lẽ có con sức sống qúa mãnh liệt, nên vẫn có tiếng chộn rộn…Cũng có thể chiếc dây chun nào đó bị đứt lỏng khiến một số con dẫy đành đạch, kêu ẹt ẹt… Có hai con đang nằm bật đứng dậy , chiếc dây chun quấn quanh cổ lòng thòng , há mỏ từ trong phát ra tiếng khò.. khè, the thé, rớt rãi chảy ra… Sợ chúng lại làm ồn, một’’đồ tể’’ vôi ban cho bọn nó’’nhát phang …ân huệ’’ !

Những người còn lại túm cổ từng con cắt tiết rồi vất vào chiếc bồn tắm cũ, cô gái mở van nước nóng. Vài phút sau quy trình : Vặt lông, mổ moi, làm lòng – diễn ra…

Khung cảnh tĩnh mịch của đêm trường trở lại.

Bây giờ ông Hoàng mới hết sợ.

Tuy nhiên ông thở hồng hộc như vừa qua cuộc kéo cầy trong miếng ruộng khô, hồi hơn 40 năm trước ở quê nhà. Ông gieo mình xuống chiếc ghế để ở góc chuồng gà, thởrốc…

6 gìờ sáng, gần 200 con gà làm xong, đưa vào bao nilon, chất trong kho lạnh để 8 giờ các cửa hàng đến lấy phục vụ bà con ta trong ngày cúng ông Táo lên chầu trời – 23 tháng chạp.

Cánh trẻ tắm rửa rồi tranh thủ lên giường ngủ bù lấy lại sức sau một đêm làm việc cật lực.

Ông Hoàng vẫn gật gù bên chai rượu ngũ xà.

Chỉ còn bà Hoàng ngồi bên tiếp rượu, gắp thưc nhắm cho chồng. Khi nâng chén rươu thư 5 uống một ngụm, ông hướng vào vợ dè dặt: Bà có mệt không?

Bà Hoàng lắc đầu.

Ông nâng ly rượu tợp hết, giọng như đứt hơi:

- ”Một vốn… bốn lời”… hừ… hừ…mệt.! Lũ gà chết tiệt… làm tôi sốt vó, đến bở hơi tai…

23 tháng chạp tết Nhâm Thìn 2012

LXQ

(Rút trong tập Truyện ngắn : Những mảnh đời phiêu bạt – tập 2 chưa xuất bản)

 

 

 

xxx

 

 

 

(*) – Truyện này còn có tên khác – LÁI GÀ

(1). Tại thời điểm giữa những năm 90 của thế kỷ 20, ở Đức, giá 1 Kg rau đay, rau mùi… mồng tơi – khoảng 22 – 25 D.M (1 USD ăn 1,6 D.Mark). Giá một Kg thịt lợn thăn, thịt bê non : 22 D.M.

(2) – Gà ở Đức giết mổ theo giây chuyền công nghiệp nên cắt tiết – chặt cả đầu…

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 87 other followers