GỬI BÁC LUTHER KING

GỬI BÁC LUTHER KING

(nhại thơ Nguyễn Khuyến – Nhờ bác T.H.Thuận chuyển hộ)

 

Bác KING nay đã “kinh” rồi

“Ngang qua” tôi lại bùi ngùi lòng tôi!

Nhớ cái thuở thảnh thơi ngày trước:

“lều” mở ra trà nước mời nhau;

Kính yêu, “lều” bác, trầu cau…,

tự tay trồng lấy, phải đâu mua về.

Cũng có lúc bác nghe, bác ngóng,

thấy quanh “lều” vắng bóng Công an;

hứng lên bác vặn dây đàn

tặng cho bầu bạn, cầm xoang mấy hồi!

Cũng có lúc cùng ngồi cùng nghĩ,

cuộc đời này cực bĩ, thái lai…

đường đi đã hết đoạn dài,

nay còn khúc ngắn: “đúng”, “sai” liệu chừng!

Cũng có lúc, tưởng trong hoạn nạn

phận đẩu thăng chẳng dám than trời.

Bác già, tôi cũng già rồi;

Biết thôi! Thôi thế thì thôi mới là!

Cũng có lúc chán lời phải, trái;

vội vàng im, như mãi ngủ quên.

Văn chương không có bạn hiền:

Không xem, không gửi, không phiền ai xem!

Câu thơ nghĩ xuống, lên, không viết;

viết ai xem, ai thiết mà xem!

Màn hình tối mịt ngày đêm;

“chuột” kia có bấm cũng quên, bấm gì?

Bác im lặng, gió thì cũng lặng;

Ai mong chi, cũng chẳng còn chi!

Tuổi già, “vó ngựa” đang phi

Vút qua khe cửa mang đi tuổi già!

Bác KING giờ đã NGANG QUA!!!

PHẠM   MẠN

NGỘ NGHĨNH

 

 

HÌNH ẢNH THỊ MẦU

MỜI CLICK XEM VIDEO HÌNH ẢNH THỊ MẦU:

https://www.youtube-nocookie.com/embed/tH4B8zcFykc?rel=0

HÌNH ẢNH VỀ MỘT THÀNH PHỐ BÊN PHÁP

PHÁP 1PHÁP 2 PHÁP 3PHÁP 5PHÁP 4PHÁP 6PHÁP 7

.CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU.

 

.CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU.
Nguyễn Tường Bách, tiến sĩ vật lý ĐH Stuttgart Đức
 
Trong năm 2010 có hai biến cố đặc biệt thu hút sự chú ý của giới khoa học. Tháng 9.2010, nhà vật lý học lừng danh Stephen Hawking luận giải một cách chung cuộc rằng vũ trụ xuất phát từ chân không, vũ trụ phát sinh không cần đến một đấng sáng tạo. Tháng 12.2010, Cơ quan Quản trị Hàng không và Không gian NASA thông báo phát hiện của bà Felisa Wolfe-Simon, trong đó người ta tìm thấy một hình thái mới của sự sống, không giống với cấu trúc mà con người biết đến.
Hai biến cố khoa học này làm những ai quan tâm không thể không liên tưởng đến những luận đề cơ bản của Phật giáo trong vũ trụ và thế giới hiện tượng.
chan-khong-dieu-huu
Trong tác phẩm mới xuất bản The Grand Design, nhà vật lý 68 tuổi Stephen Hawking viết rằng, các lý thuyết vật lý mới nhất cho thấy vũ trụ của chúng ta đã tự hình thành. Trước khi vũ trụ thành hình thì chỉ là một sự trống rỗng, nhưng tính sáng tạo nội tại trong cái “Không” đó đã hình thành vũ trụ. Hawking thấy “không cần thiết” phải có một Thượng đế, một đấng sáng tạo để tạo dựng nên vũ trụ.
Từ một tình trạng không có gì, phi thời gian không gian, không cần một nguyên nhân ngoại lai, có một sự bùng nổ, phát ra năng lượng và vật chất. Đó là hiệu ứng được mệnh danh là “hiệu ứng lượng tử”, xuất phát từ sự tăng giảm không đều của năng lượng. Nói tóm gọn, vũ trụ là kết quả của một sự sáng tạo mà không có người sáng tạo.
Với nhận thức này, Hawking đã từ chối có một đấng sáng tạo vũ trụ. Nhận thức này không dễ chấp nhận tại phương Tây, kể cả trong giới khoa học vật lý. Lý do không phải là các nhà vật lý kia tin mù quáng nơi một Thượng đế toàn năng mà họ có những lý lẽ hết sức vững chắc khác. Đó là thế giới của chúng ta quá kỳ diệu, rõ rệt là vũ trụ được cấu tạo dường như có chủ đích là sẽ có ý thức tồn tại trong đó. Người ta đã xác định một loạt các thông số trong Thái dương hệ và thấy rằng chỉ cần một thông số lệch đi một chút là đã không thể có đời sống loài người trên trái đất. Mặt trời chỉ cần lớn hơn một chút, thành phần của các hành tinh chỉ khác đi một chút, không có sự hiện diện của mặt trăng… là không thể có loài người. Xác suất để ý thức xuất hiện là quá nhỏ, gần như bằng không. Thế mà vẫn có ý thức cao cấp xuất hiện để chiêm nghiệm ngược lại về vũ trụ.
Một khi đã có một vũ trụ vân hành hoàn hảo như thế, khi có một sự sáng tạo tuyệt diệu thì cần phải có người sáng tạo có ý thức, hay phải có “Thượng đế”. Thế nhưng cũng chính các nhà khoa học theo quan niệm sáng tạo cũng phân vân, nếu có Thượng đế toàn năng thì làm sao lý giải được những cảnh tàn bạo, bất công trong thế giới của con người. Đó là một nan đề của môn bản thể học trong vật lý hiện đại.
Nhận thức của Hawking cho rằng vũ trụ xuất phát từ chân không bằng một sự vận động tự thể. Có sự sáng tạo nhưng không có người sáng tạo. Nhận thức này phần nào lý giải tính chất kỳ diệu của vũ trụ nhưng không dễ hiểu. Nó khó hiểu ở chỗ là nhận thức này từ chối một tự ngã làm chủ cho một hành động. Có hành động nhưng không có người hành động. Nhận thức này tuy xa lạ với phương Tây nhưng nó là một cách phát biểu của thuyết vô ngã trong đạo Phật.
 
Biến cố thứ hai trong năm 2010 là bài báo cáo của bà Felisa Wolfe-Simon1 (NASA Astrobiology Institude, USA) và cộng sự về một cái nhìn khác về hình thái của sự sống, nhân dịp khám phá một loại vi sinh vật được cấu tạo hoàn toàn khác với quan niệm hiện nay. Theo các lý thuyết sinh học hiện nay, mọi hình thái hữu cơ trên trái đất và cả ngoài trái đất chỉ được xây dựng với 6 nguyên tố: carbon, hydro, nitrogen, oxy, sulfur (lưu huỳnh) và phosphorus (phốt pho). Từ những tế bào giản đơn nhất, đơn bào, sống trong môi trường hiếm khí hay không có ánh sáng cho đến chủng loại cao cấp loài người đều chỉ gồm 6 nguyên tố đó mà thôi. Nay Wolfe-Simon chứng minh rằng đã có sinh vật không chứa phosphorus mà chứa arsenic (thạch tín).Với arsenic, vi sinh vật này cũng tăng trưởng tương tự như các vi sinh vật khác.
Phát hiện này xem ra không quan trọng trong đời sống bình thường, nhưng trong ngành sinh vật học địa cầu và ngoài địa cầu, nó gây “chấn động mãnh liệt”. Người ta bừng tỉnh thấy rằng lâu nay ngành sinh học quan niệm về sự sống một cách hạn hẹp, tự đưa ra hạn chế trong định nghĩa về hình thái của sự sống. Người ta thấy rằng phải từ bỏ hạn chế đó và cần tìm hiểu lại sự sống ngay trên trái đất này. Khi đó, với nghiên cứu về sự sống ngoài hành tinh, người ta hy vọng sẽ mở rộng hơn tầm nhìn và khám phá những hình thái sống không thể ngờ tới. Thực tế là arsenic hiện hữu nhiều trong những môi trường cực lạnh, “linh động” hơn phosphorus và vì vậy dễ sinh ra sự sống hơn. Do đó khi xem arsenic là một nguyên tố của sự sống hữu cơ, người ta có nhiều hy vọng hơn sẽ tìm thấy sự sống khác trong vũ trụ.
Bài báo cáo về vi sinh vật này tuy có tính chất rất chuyên môn nhưng thật ra đã tạo nên một niềm triển vọng và phấn khích mới. Đó là con người chỉ thấy rằng mình chỉ là một hình thái trong vô số hình thái của sự sống. Điều này làm ta nhớ tới khái niệm “Diệu hữu” trong đạo Phật. Sự tồn tại (hữu) là vô tận, số lượng của thế giới và của các loài sinh vật, từ đơn giản đến cao cấp, là vô tận. Có thể con người một ngày kia sẽ đến chỗ thừa nhận là sự sống có những hình thái hoàn toàn khác hẳn, không phải chỉ gồm 6 nguyên tố mà nhiều hơn hẳn. Cũng có thể người ta sẽ đến với nhận thức là tư tưởng và tình cảm cũng là một dạng của sự sống mà “thân” của chúng không phải là các yếu tố “vật chất” mà là những sóng tương tự như những sóng điện từ. Cuối cùng khi con người nhận thấy đời sống là nhất thể, và mọi hình thái của nó, từ vật chất đến phi vật chất, đều là những “pháp” vô ngã, vô thường, khi đó khoa học tạm gọi là sẽ đồng quy với Phật giáo.
Đồng chủ biên cuộc khảo cứu, giáo sư Paul Davies thuộc Arizona State University và Viện Sinh học Không gian của NASA, nói với BBC News2: “Vào lúc này chúng ta không biết sự sống chỉ là một tai nạn ngẫu nhiên xảy ra trên trái đất, hay đó là một phần của một tiến trình sinh hóa tự nhiên qua đó sự sống xuất hiện ở bất kỳ đâu có điều kiện trên trái đất”. Davies ủng hộ quan niệm “… sự sống xuất hiện ở bất kỳ đâu có điều kiện như trái đất” và điều này rất phù hợp với quan niệm Duyên khởi của đạo Phật, tức là cho rằng hễ có điều kiện như nhau thì sự sống phát sinh như nhau chứ một hiện tượng không thể xuất hiện “ngẫu nhiên” một lần rồi thôi.
Hai biến cố kể trên, một bên thuộc phạm vi vật lý lý thuyết, bên kia của vi sinh vật, có một ý nghĩa thú vị ở đây. Nhận thức của Hawking trùng hợp với thuyết “Chân không” và Vô ngã, còn phát hiện của Wolfe-Simon làm ta liên tưởng đến tính “Diệu hữu” và duyên khởi của đạo Phật.
 
Chân không-Diệu hữu vốn là vấn đề của vũ trụ quan của Phật giáo. Theo đó, mọi hiện tượng đều xuất phát một cách nội tại từ “Không”, không do tác nhân bên ngoài. Chúng xuất hiện trong thế gian và tuân thủ nguyên lý Duyên khởi, đủ điều kiện thì sinh, đủ điều kiện thì diệt. Các hiện tượng đó không ai làm chủ nhân, chúng làm tiền đề cho nhau để sinh và diệt. Khi sinh thì sinh từ chân không, khi diệt thì không còn chút bóng hình lưu lại. Các hiện tượng, mà trong đạo Phật gọi là “pháp”, không chịu sự hạn chế nào cả, không có ai lèo lái chúng cả. Khi đủ điều kiện thì mọi hình thái của sự sống đều khả dĩ, khả năng xuất hiện của chúng là vô tận, “bất khả tư nghì”. Diệu hữu bao trùm mọi hiện tượng, vật lý cũng như tâm lý, nằm ngoài khả năng suy luận của con người chúng ta. Cụ thể, khi nói về con người thì đó là một tổng thể gồm hai mặt tâm lý và vật lý với năm yếu tố mà ta gọi là Ngũ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức). Năm yếu tố đó vận hành vô chủ.
Những phát hiện của khoa học làm chúng ta kinh ngạc về tri kiến của Phật và các vị Tổ. Các vị đã phát hiện những quy luật của vũ trụ không bằng phép nghiên cứu thực nghiệm mà bằng trực giác trong một dạng tâm thức phi thường của thiền định. Qua thời gian, thực tế cho thấy các phát hiện của khoa học không hề bác bỏ vũ trụ quan Phật giáo mà ngược lại, chúng trùng hợp một cách kỳ lạ. Tuy nhiên chúng ta cần tránh một thái độ, đó là xem khoa học như thước đo đúng sai đối với nhận thức luận Phật giáo. Lý do là Phật giáo chủ yếu nhận thức về hoạt động của tâm, trong lúc khoa học vật lý hay sinh học thiên về vật chất. Tất nhiên Phật giáo xem tâm-vật nằm chung trong một thể thống nhất và mặt khác, khoa học vật lý hiện đại cũng phải thừa nhận vai trò của người quan sát (tức là vai trò của tâm) trong mọi thí nghiệm. Nhưng phải nói phạm vi nhận thức giữa khoa học và Phật giáo rất khác nhau. Một điều mà ta không quên nữa là Phật giáo nhận thức thế giới với mục đích thoát khổ, thoát khỏi sự ràng buộc của nó bằng các phương pháp tu dưỡng tâm. Còn nhà vật lý hay sinh học chỉ nhận lại ở sự nhận thức. Vì vậy, khi so sánh Phật giáo và khoa học, tuy có nhiều thú vị và hứng khởi, ta cần biết giới hạn của nó.
Chân không-Diệu hữu là một chìa khóa để hiểu nhận thức luận về bản thể và hiện tượng của Phật giáo. Vì mọi hiện tượng xuất phát từ “Không” nên nó không có một bản chất trường tồn và riêng biệt, đó là thuyết Vô ngã. Chỉ có Ngũ uẩn đang vận hành, không có người vận hành chúng. Tương tự, Hawking cho rằng có sự sáng tạo nhưng không có ai sáng tạo cả. Thuyết Vô ngã khó hiểu cho những ai mới làm quen với đạo Phật. Cũng thế, vũ trụ tự sáng tạo và sáng tạo một cách tuyệt diệu, nhưng không có đấng sáng tạo. Đó là điều cũng khó hiểu cho nhiều người phương Tây.
Hawking chứng minh vũ trụ xuất phát từ cái “Không”, ông bác bỏ sự cần thiết của một Thượng đế nhưng có lẽ ông không biết “Không” là gì. Là một nhà vật lý, ông khó có thể biết hơn. Thế nhưng lại đến phiên ta kinh ngạc về khoa học vật lý. Dù tự hạn chế mình trong lĩnh vực vật chất, vật lý đã đi đến tận cùng biên giới của vật chất, gõ cửa ngành bản thể học và gần như chạm đến “chân lý tuyệt đối” của đạo Phật. Vị trí của Hawking làm ta nghĩ đến luận sư Long Thọ, cả hai vị đều cho rằng “Không” là nguồn gốc của muôn vật, nhưng cả hai đến từ hai chân trời khác nhau.
Phật và các vị Tổ Phật giáo biết “Không” là gì bằng trực quan nhưng không miêu tả nhận biết của mình.Tính Không thuộc về một lĩnh vực mà ngôn ngữ không diễn bày được. Cũng như thế trong vật lý lượng tử, người ta thấy ngôn ngữ và cách suy luận thông thường không còn thích hợp. Giữa Phật giáo và khoa học, sự trùng hợp rất lớn mà sự khác biệt cũng rất lớn.
Nhà vật lý tin rằng có một vụ “nổ ban đầu” (Big Bang) cách đây khoảng 14 tỉ năm để sinh ra vũ trụ vật lý. Thiền giả thấy có một sự “bùng nổ” trong tâm xảy ra trong từng sát-na. Đó là cách nói gọn nhất về sự khác biệt giữa Phật giáo và khoa học.
Nguyễn Tường Bách

BỒ CÔNG ANH có nhiều dược tính chữa bệnh

BỒ CÔNG ANH có nhiều dược tính chữa bệnh

Video Bồ Công Anh: nhiều dược tính chữa bệnh

CÂY BỒ CÔNG ANH (DANDELION)
Bồ công anh là một trong những dược-thảo mà bác-sĩ Christopher dạy chúng ta nên coi-trọng hơn là khinh-thường. Mọc hầu như ở khắp mọi nơi có người sống, nó là nguồn cung-cấp thực-phẩm và dược-phẩm phong-phú. Chúng ta phải vui-mừng vì sự hiện-hữu của nó trong vườn, hơn là tốn công nhổ nó đi.
Bác sĩ Christopher kể rằng có một năm vào hai mùa đông và xuân khi bệnh-tật và các khó-khăn xảy ra đến nỗi không mua bán thực-phẩm hàng ngày được, gia đình ông đã hái hàng nắm đầy lá Bồ công anh non để nấu canh với hành, gia-vị, đậu hạt, v.v. Rau Bồ công anh non rất ngọt và ngon miệng.
Một câu chuyện cổ về việc xử-dụng Bồ công anh thường được nhắc tới.  Bác-sĩ Sparks viết,  “Mười lăm năm trước tôi bị mắc chứng đau gan. Tôi dùng hết khả-năng của tôi để cố-gắng chữa-trị, nhưng thất-bại. Tôi nhờ thêm hai bác-sĩ Wilson và Jordan chữa, cũng không thành-công. Một người y-tá già nói với tôi Bồ công anh là một dược-thảo phổ-thông rất hiệu-nghiệm về chữa trị gan, và tôi đã quyết-định thử dùng nó. Bồ công anh đã phục-hồi được ngay sức-khỏe cho tôi. Nó trở-thành dược-phẩm yêu thích mà tôi hay dùng để chữa-trị bệnh đau gan cho các bệnh-nhân, dưới dạng nước ép hoặc cho uống một ly đầy nước sắc Bồ công anh hai lần một ngày. Hầu như trong mọi trường-hợp tôi đều thành-công trong việc phục-hồi sức-khỏe cho những ai dùng dược-thảo này (Lucas: Herbal: 3-5).
Bồ công anh là một trong các dược-thảo cổ-xưa và được dùng nhiều nhất trong lịch-sử.
– Giúp cho người ta nhìn xa mà không cần đeo kiếng.
– Giải-tỏa các bế-tắc trong gan, túi mật và lá-lách, cũng như làm thông ống dẫn đường tiểu và tiêu trừ các ung-nhọt.
– Thuyên giảm các triệu chứng khi đau-ốm, khi lên cơn sốt.
– Đặc biệt suốt thời gian có dịch bệnh hoành hành, trà Bồ công anh rất hữu ích để chống lại bệnh dịch, và dùng để rửa các vết thương.
– Chữa bệnh đái-dầm của trẻ em và bệnh tiểu són nơi các người già
– Thổ-dân da đỏ ở Hoa-Kỳ rất coi-trọng  Bồ công anh. Sự yêu-thích dược-thảo nầy quá lớn đến nỗi số-lượng tiêu-thụ bởi một người dân da đỏ vượt ngoài sự tưởng-tượng :
– Họ ngâm lá Bồ công anh vào nước để làm thuốc,
– Lấy rễ nấu trà uống để chữa bệnh ợ-chua (heartburn).
– Dùng rễ để làm thuốc bổ có vị đắng
– Chữa đau ngực khi các thuốc khác thất-bại
– Các lá non chứa đầy sinh-tố, họ ăn tươi hay nấu chín, cùng với các phần khác của cây
– Chữa các chỗ xương bị gẫy bằng cách nghiền-nát lá tươi với nước để làm thành bột-nhồi (paste), đắp lên chỗ bị gẫy xương, rồi lấy lá nguyên phủ lên và lấy khăn buộc lại.
– Trà hoa Bồ công anh được xem là thuốc bổ tim
-Trong thời Cựu-Ước, Bồ công anh là một dược-thảo có vị đắng được dùng trong Lễ Vượt-Qua (Passover).
THUỐC THAY THẾ THƯỢNG-HẠNG (SUPERIOR ALTERATIVE)
Có rất nhiều ứng-dụng được nêu lên về Bồ công anh đã đưa nó tới một chỗ đứng của các dược-thảo chữa-lành mọi bệnh (cure-alls). Tuy-nhiên, thông-thường  nó được dùng nhiều nhất để chữa lành gan. Ở Âu-châu, nhiều thí-nghiệm khoa-học được đưa ra để chứng-mình sự tin-tưởng cổ-truyền là Bồ công anh sự-thực chữa lành được những bệnh về gan: sưng gan, vàng da, tắc nghẽn ở gan (ứ mật)
– Bồ công anh đặc-biệt hữu-dụng cho các trường-hợp về gan của những người sinh-sống trong vùng khí-hậu ấm, dùng nấu canh với vài lá me-chua và một lòng đỏ trứng, hàng ngày trong vài tháng (Grieve: 254).
– Bất-cứ dược-thảo nào có tác-dụng lợi-ích cho gan đều có lợi-ích cho các phần còn lại của cơ-thể. Đặc-biệt đáng chú-ý là tác-động của Bồ công anh trên hệ tiêu-hóa và hệ bài-tiết.
– Bồ công anh có lượng muối dinh-dưỡng rất cao giúp tẩy-lọc máu và hủy-diệt các acids trong máu. ÔngJethro Kloss nói,  “bệnh thiếu máu là do thiếu các chất muối dinh-dưỡng trong máu, Bồ công anh chứa các chất muối dinh-dưỡng này”  (Jethro Kloss (Back to Eden): 237).
– Bồ công anh có nhiều lợi-ích cho bao-tử và đường ruột: dùng tri-liệu chứng khó tiêu đưa tới táo-bón, sốt, mất ngủ và bệnh tưởng tượng (ưu-uất thần-kinh)  (Lust: 171), chữa bệnh táo-bón mãn-tính và viêm bao-tử xuất tiết (catarrhal gastritis),
– Được đặc-biệt dùng trong trường-hợp tự nhiễm-độc đưa tới da nổi mụn. Nói một cách khác, nhiều người bị đau-khổ về mụn (acne) hoặc chứng da bị nổi mụn khác do độc-tố trong cơ-thể nên uống một ly trà bồ công anh hàng ngày.
– Tăng-cường khả-năng hấp-thụ các chất bổ-dưỡng và do đó được khuyến-cáo dùng cho bệnh khó tiêu-hóa mãn-tính.
– Những nguời bị đau bao tử, uống trà bồ công anh với liều-lượng trung-bình nhiều lần trong ngày; nó làm tăng-trưởng sự ngon miệng tự-nhiên và dẫn tới tiêu-hoá tốt.
– Bồ công anh thường được cho là có tác-dụng tốt trên chức-năng của lá-lách.
– Rễ Bồ công anh trị chứng đường thấp trong máu (hypoglycemia), một ly trà dùng hai hoặc ba lần trong một ngày cùng với việc ăn-uống cẩn-thận.
– Trị bệnh tiểu-đường cho người lớn tuổi, cũng phải đi đôi với việc ăn-uống cẩn-thận (Tierra: 122).
– Giúp hạ áp-huyết.
– Làm tan các sạn trong đường tiểu, lấy 30g rễ tươi, xắt nhỏ, nấu nước sắc, uống trong 10 ngày (Michael Moore: 70). Bác-sĩ Clymer đề-nghị một hỗn-hợp Bồ công anh, râu bắp (corn silk) và rễ hải cẩu vàng (golden seal) rất hiệu-nghiệm trong việc trị-liệu các bệnh về đường tiểu.
– Trị mụn cơm (warts) hoặc mụn cóc (corns) bằng cách thoa nhựa của cây bồ công anh lên mụn trong hai hoặc ba ngày liên-tiếp,
– Để làm mất vàng da và mắt sáng, nên nhịn ăn ba buổi sáng, chỉ dùng trà Bồ công anh. Tiếp-tục nhịn ăn thêm bốn buổi sáng và không uống trà, và rồi thêm ba buổi sáng nữa có uống trà (Rose: Herbs: 56).
Dùng như thực phẩm:
Ngoài việc dùng Bồ công anh trong phạm-vi y-dược, người ta còn dùng nó như thực phẩm. Nấu canh, luộc, làm rau salad. Ví dụ: 1/ Món trộn salad: dùng những lá Bồ công anh  thật non trộn với những miếng đậu hũ nướng, chút chanh, dầu, một chút đậu phọng rang và vài trái trứng luộc chín làm thành một bữa ăn trưa thật ngon và lành-mạnh.  2/ Các lá non làm các bánh mì kẹp thêm ngon miệng, các lá non được đặt giữa hai miếng bánh có phết bơ và rắc một chút muối, nước chanh và tiêu (Grieve: 25-)
Chứng từ  trích trong Sách “Thuốc gia truyền”:
-”Chúng tôi đã chữa cho 3 Linh mục và một anh em bị xuất huyết bao tử khá nặng, đã đi bác sĩ nhiều lần, bị xuất huyết khá nhiều, có người đã tưởng chết, đi nhà thương về vẫn chứng nào tật ấy, nhưng khi uống bồ công anh, chỉ trong mấy ngày dã khỏi dứt bệnh.
1/Một cô mới bị nhện cắn, sưng phù bàn tay. Cô vội đóng cửa tiệm, đi bác sĩ. Bác sĩ cho uống trụ sinh, về uống, tay không xẹp. Nhiều người cho là phải mổ,  nếu không sẽ hư cả bàn tay. Cô nhớ tới bài thuốc Bồ công anh, liền đi ra vườn quanh tiệm, nhổ cây bồ công anh về, vừa giã ra với chút muối, đắp vào tay, vừa nhai nuốt sống. Kết quả: sau một buổi chiều, bàn tay hơi xẹp xuống, cô đắp thêm 2 lần nữa , sau 3 ngày, tay đã khỏi hẳn.
2/Cô cho biết: cô cũng bị tắc đường kinh đã vài tháng rồi, nhưng sau khi nấu nước bồ công anh uống, mới một ngày, đường kinh đã thông, không còn những bế tắc khó chịu.
3/Cô cũng cho biết thêm: Khách hàng của cô có một thanh niên người Mỹ đen, mặt và cổ nhiều mụn coi rất sợ. Cô chỉ cho cách giã lá bồ công anh với chút muối, đắp vô. Lần đầu thấy mủ chảy ra, đắp thêm. Sau mấy ngày, mụn đã xẹp hết.
4/ Cô cho biết thêm nữa: Một bà Mỹ trắng khoảng 50 tuổi bị rắn cắn. 
Sau khi ở nhà thương về, bà tới tiệm cô mua thuốc lá hút. Trong lúc trả tiền cô thấy ngón tay trỏ bà sưng vù, lớn gấp 3 so với các ngón khác, đen như dầu hắc từ móng tay vào tới 1/3 lòng bàn tay. Bà cho biết: bị con rắn CoperHead cắn. Sau 7 ngày ở trong bệnh viện, bác sĩ chỉ cứu được mạng bà và dặn tuần sau đi bác sĩ mổ để cắt ngón tay sưng đã hết cảm giác, kẻo sinh chuyện lớn cho toàn thân.
Cô chủ tiệm Th. chỉ cho bà lấy Bồ công anh pha chút muối đắp lên ngón tay. Nhưng coi như bà không tin vào môn thuốc “lang băm” này. Cô xin bà chờ vài phút, cô liền đi ra vườn sau tiệm hái ít lá bồ công anh, đem vào rửa sạch, nói bà Mỹ nhai. Cô bỏ bã bồ công anh và chút muối lên ngón tay “chết” của bà rồi bọc lại bằng cái túi nilong, vì không có băng cá nhân. Chỉ làm một lần như thế, cô còn khuyên bà đừng để bác sĩ cắt ngón tay.
Lạ lùng, sau chừng 5 tuần bà trở lại tiệm, giơ tay lành lặn, móng tay đã trắng ra như cũ. Bà ôm cô chủ tiệm, vừa khóc vừa gọi cô là “bác sĩ” cứu mạng. Bà còn ra tiệm Walmart mua 1 bó bông hồng tặng cô nữa.
Để chắc ăn, cô “lang băm” này đã nhổ thêm một mớ bồ công anh cho bà nấu nước uống.
Khi bà trở lại nhà thương, bác sĩ và cả văn phòng đã biết bệnh bà trước kia đều ngạc nhiên nói xì xầm: “miracle” (phép lạ, phép lạ).
Không ngờ nắm bồ công anh  mọc hoang ngoài vườn lại có thể giúp những người khác như vậy.

Xót xa cái chết của những con chim phóng sinh trong mùa Vu Lan

 

Xót xa cái chết của những con chim phóng sinh trong mùa Vu Lan
Có những chú chim được thả đi và bắt lại nhiều lần nên không còn sức bay nữa. Như các đồng loại đáng thương của mình, nó nằm đó và chờ bị bắt lại, để rồi lại được bán cho những người tới mua chim phóng sinh…
Phóng sinh động vật từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa, là hành động đầy tính nhân văn của người Việt, nhất là đối với những người con nhà Phật và trong các tháng rằm lớn đặc biệt như mùa Vu Lan báo hiếu.
Theo thuyết nhà Phật, phóng sinh tức là giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống của chúng sinh (điển hình là các loài vật như chim, cá…). Và khi phóng sinh cần có lễ quy y, sám hối cho con vật. Nghi lễ này thường diễn ra ngắn gọn nhưng đủ sức tế độ, không câu nệ kéo dài thời gian khiến con vật càng thêm đuối sức và có thể chết đi trong lúc làm lễ.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Cảnh mua bán chim phóng sinh tại chùa Vĩnh Nghiêm (TP HCM) trong dịp lễ Vu Lan chiều 20/8.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Cận cảnh những chú chim tội nghiệp bị nhốt trong lồng sắt.
Tin vào đạo lý này, nhiều người mộ đạo và có lòng từ bi thường đến chùa mua chim phóng sinh trước và sau khi cầu nguyện – mong trời đất ghi nhận lòng thành và tích đức qua hành động đẹp này. Tuy nhiên, hành động đẹp được khuyến khích, động viên trong kinh sách từ ngàn năm nay hiện giờ đã không còn giữ nguyên được những giá trị tốt đẹp ban đầu mà đang bị biến tướng. Sự biến tướng đó là một công nghệ đầy tội ác đến từ những con người kinh doanh, buôn bán chim phóng sinh.
Nếu như, người ta bẫy chim – lưới cá để ăn thịt và bạn đến mua lại chúng, giải thoát chúng về với cuộc sống thiên nhiên vốn dĩ chúng phải được sống thì đó là phóng sinh làm phúc. Nhưng công nghệ đánh bắt chim với chủ ý buôn bán cho người phóng sinh và kèm theo đó là hàng ngàn cách làm đầy thâm độc để lũ chim không bay được đi xa, tiện cho việc đánh bắt lại của những người bán chim – thì đó rõ ràng không đơn thuần là việc thiện nữa. Mà đúng hơn, chân thật hơn – người ta gọi đó là tội ác. Chúng ta, vì những lầm tưởng trầm trọng về việc phóng sinh mà đã vô tình gây nên tội lỗi.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Mỗi khi có người mua, chim phóng sinh bị người bán bóp chặt khi bắt ra khỏi lồng.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Do bị cắt cánh, đánh thuốc nên chim không thể bay cao, bay xa mà chỉ có thể bay la đà, thậm chí là đứng im, nằm một chỗ trên sân chùa.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Có thể dễ dàng bắt lại những con chim phóng sinh yếu ớt này.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Với giá bán 15.000 đồng/con, một lồng chim cứ bán ra rồi bắt lại để bán tiếp như thế này có thể đem lại lợi nhuận cả chục triệu đồng cho những người kinh doanh chim phóng sinh.
Người viết đã từng có lần vô tình leo lên một ngọn đồi ở Tây Ninh trong chuyến đi chụp ảnh và thật đau xót khi chứng kiến cảnh hàng trăm, hàng ngàn con chim se sẻ chết tươi – chết khô ở dưới một gốc cây cổ thụ lớn. Đó là một cảnh tượng hãi hùng và đau thương thật sự đối với tất cả những người trong đoàn. Theo một số người dân trong khu vực cho biết, đa số chim chết trên đồi là do kiệt sức vì bị đánh bắt và buôn đi bán lại nhiều lần. Đấy là những con chim may mắn (so với những con bị đánh thuốc khác) vì còn có thể chết nơi núi rừng, nơi chúng sinh ra và luôn mong muốn được tồn tại.
Đa số những con chim bất hạnh sau khi bị đánh bắt thì chỉ có “chết trong tù”. Chúng được cho ăn một loại thuốc khiến chúng yếu đi, chỉ bay được là đà trên khuôn viên sân chùa và ngay sau đó vài phút sẽ bị bắt lại, nhốt vào lồng và bán cho người thứ n, lần thứ n… cho đến khi chết.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Những con chim hoảng loạn, dồn về một góc lồng chờ chết.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Một chú chim chết ngay trong lồng.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Xác một con chim phóng sinh nằm vất vưởng dưới bậc thềm.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Một con chim phóng sinh chết ngay trên sân chùa và tan xác vì những bàn chân dẫm đạp của khách đến viếng chùa.

Các bạn, đã bao giờ bỏ ra 5 phút đứng nhìn lũ chim bị nhốt chật cứng trong lồng ở các đền chùa và các tụ điểm phóng sinh chưa? Con gãy cánh, con một chân, con mù mắt, con gần trụi lông, và những con lờ đờ yếu đuối không thể đứng nổi… Khi có khách hàng, người bán sẵn sàng thò tay vào nắm đầu cả đám chim lôi ra ngoài và đếm đếm, tính tiền thật hả hê – mặc cho tiếng kêu hoảng loạn và đầy đau đớn vì bị bóp nghẹt của chúng.

Vậy chúng ta, những người bỏ tiền ra mua chim phóng sinh là tạo đức hay tạo nghiệp – khi lũ chim vô tội kia bị bắt, bị đánh thuốc cho đến chết là vì nhu cầu của chính chúng ta, những người luôn nghĩ mình tích đức vì chúng? Chắc câu trả lời ở mỗi người đều có. Chỉ mong rằng giới trẻ sẽ có cái hiểu đúng hơn và thực tế hơn về việc thiện ở đời. Thiện tâm là tốt, nhưng thiện tâm vẫn cần có ý thức và tri thức thì mới là đủ.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Sau mùa lễ Vu Lan báo hiếu, đa số chim phóng sinh sẽ bị chết vì kiệt sức.
phóng sinh, lễ Vu Lan, xót xa
Phóng sinh như thế bằng mười sát sinh!
“Truyền thống phóng sinh chim giờ đây là một việc làm độc ác cần xóa bỏ” là một lời thỉnh cầu thật sự chính đáng và cần được thực hiện ngay từ bây giờ để cứu những chú chim vô tội, nếu bạn là một người thiện tâm đúng nghĩa. Vì phóng sinh như thế, bằng mười sát sinh.
(Theo Trí Thức Trẻ )