Archive for the ‘Chuyện người Việt mình’ Category

Con dâu lang thang hè phố xin tiền chữa bệnh cho mẹ chồng

Con dâu lang thang hè phố xin tiền chữa bệnh cho mẹ chồng

(Dân trí) – Mẹ chồng nằm liệt giường vì bệnh tai biến mạch máu não, để có tiền chạy chữa cho mẹ, người con dâu 55 tuổi phải đi khắp bệnh viện, hè phố xin tiền.

Bệnh nhân Huỳnh Thị Đại đang được điều trị tại Khoa Hồi sức – Tích cực – Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai

Hơn 1 tháng nay, Khoa hồi sức – Tích cực chống độc Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai tiếp nhận bệnh nhân Huỳnh Thị Đại (79 tuổi, ngụ tổ 5, KP4, phường Thống Nhất, TP Biên Hòa, Đồng Nai) bị tai biến mạch máu não và nghi nhiễm trùng huyết. Hằng ngày, ngoài việc thăm hỏi bệnh và điều trị cho bệnh nhân, các bác sỹ tại đây còn phải luân phiên, thay nhau chăm sóc cho bà vì người thân của bệnh nhân phải “lăn lộn” kiếm tiền để chi trả thuốc thang.

 

Bà Huỳnh Thị Đại không có chồng. Để có người chăm sóc hương hỏa khi khuất núi, bà đã xin một người con trai tên là Lưu Văn Mành về làm con nuôi. Khi người con lớn lên, bà tích góp tiền bạc để dựng vợ cho Mành với ước mong con được hạnh phúc. Thế nhưng, mọi chuyện không được như ý muốn vì Mành không chịu làm ăn mà suốt ngày lao vào cờ bạc, rượu chè. Năm 2013, vì nợ bài bạc đã lên đỉnh điểm nên Mành đã quyết định bán đất, bán nhà để trả nợ.

 

Cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ (55 tuổi), con dâu của bà Đại cho biết: “Từ ngày chồng tôi bán nhà để trả nợ, cả nhà phải mướn phòng trọ để ở. Bán nhà chưa được bao lâu thì chồng tôi mất. Bây giờ chỉ có tôi và con gái chăm sóc cho mẹ chồng. Thân cô thế cô, lại không nghề nghiệp nên cuộc sống bị bó buộc trong khó khổ”.

 

 

Hàng ngày cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ – con dâu bà Đại cầm phiếu viện phí của bệnh viện, lang thang hè phố xin tiền chữa bệnh cho mẹ chồng

 

Ngày thường, để có tiền trang trải cuộc sống, cả cô Lệ và bà Đại đều phải lang thang đi bán vé số. Tháng 3/2013, trong một lần đi bán ở gần nhà, bà Đại bị tai nạn và nằm liệt giường từ đó đến nay. Bị tai biến mạch máu não nhưng do hoàn cảnh quá nghèo nên con cháu của bà đành để bà nằm ở nhà chăm sóc. Ba tháng nằm liệt giường, trong khi ăn uống, thuốc thang thiếu thốn đã khiến bệnh nhân bị suy nhược. Do nằm một chỗ nên nhiều vùng thịt sau lưng của bà Đại bị bầm dập, lở loét. Nhiều vùng thịt bị hoại tử có đường kính gần 10cm.

 

Không nỡ nhìn bệnh nhân chết mòn trên giường, bà con hàng xóm đã quyên góp tiền bạc giúp cô Lệ đưa mẹ chồng đi viện. “Số tiền hàng xóm ủng hộ chỉ đáp ứng được một phần. Thời gian gần đây, do không có tiền đóng viện phí và thuốc thang cho mẹ nên tôi đành đi lang thang hè phố, đến những nơi đông người hoặc hành lang bệnh viện để xin tiền. Bản thân tôi cũng bị tai biến mạch máu não nhưng may mắn vì còn đi lại được nên tôi cố gắng” – Cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ rơi nước mắt tâm sự.

 

Bệnh nhân Huỳnh Thị Đại bị bệnh tai biến mạch máu não, nghi nhiễm trùng huyết nên chưa thể thể khẳng định được thời gian xuất viện cũng như kinh phí điều trị

 

 

Bà nội liệt giường, mẹ không có khả năng lao động nên Lưu Thị Kim Ngân (20 tuổi) là trụ cột chính của gia đình. Hàng ngày, Ngân đến các quán ăn trong TP Biên Hòa xin rửa chén bát với đồng lương 2 triệu đồng mỗi tháng. Ngân cho biết: “Thời gian gần đây, em và mẹ phải nhờ các y bác sỹ chăm sóc cho nội để có thời gian đi kiếm tiền chi trả viện phí. Nếu không đi làm thì biết lấy đâu ra tiền lo thuốc thang!?”.

 

Bệnh nhân Huỳnh Thị Đại thuộc diện hộ nghèo và có bảo hiểm nên phải chi trả 5% tiền viện phí. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên từ khi nhập viện đến nay, con cháu mới chỉ đóng viện phí được hơn 2 triệu đồng.

 

Bác sỹ Hoàng Đại Thắng, Trưởng khoa Hồi sức – Tích cực – Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai cho biết: “Bệnh nhân Huỳnh Thị Đại bị tai biến mạch máu não nghi nhiễm trung huyết. Trước khi được chuyển vào viện điều trị, nhiều vùng thịt ở lưng và mông bị lở loét nghiêm trọng. Hoàn cảnh khó khăn nên con dâu và cháu nội phải gửi bà tại bệnh viện cho các y, bác sỹ chăm sóc để đi kiếm tiền lo thuốc thang. Do bệnh của bệnh nhân diễn biến bất thường nên chưa thể khẳng định được thời gian xuất viện cũng như kinh phí điều trị. Hiện bệnh nhân đang rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng”.

Mọi đóng góp hảo tâm xin gửi về:

1. Mã số 1094: Bà Huỳnh Thị Đại, Khoa Hồi sức – Tích cực – Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai (Số 397, Đường 30/4, Phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai).

Điện thoại: 01285.673.410 (chị Lưu Thị Kim Ngân, cháu nội bà Đại)

2. Quỹ Nhân ái – Báo Khuyến học & Dân trí – Báo điện tử Dân trí.

Ngõ 2 nhà số 48 Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội (Cạnh bến xe Kim Mã)

Tel: 04. 3. 7366.491/ Fax: 04. 3. 7366.490

Email: quynhanai@dantri.com.vn

Bạn đọc ủng hộ qua các tài khoản sau:

* Tài khoản VNĐ tại VietComBank:
Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí
Số TK: 045 100 194 4487
Tại: Ngân Hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Thành Công – Hà Nội.

* Tài khoản USD tại VietComBank:
Account Name: Bao Khuyen hoc & Dan tri

Account Number: 045 137 195 6482

Swift Code: BFTVVNVX

Bank Name: THE BANK FOR FOREIGN TRADE OF VIETNAM (VietComBank)

* Tài khoản VNĐ tại VietinBank:
Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí
Số TK: 10 201 0000 220 639
Tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm

* Tài khoản VNĐ tại Ngân hàng Quân đội (MB)

Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí
Số TK: 0721100356359

Tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thái Thịnh – Hà Nội

* Tài khoản USD tại Ngân hàng Quân đội (MB)

Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí
Số TK: 0721100357002

Swift Code: MSCBVNVX

Bank Name: MILITARY COMMERCIAL JOINT STOCK BANK –  MCSB ( No.3, Lieu Giai str., Ba Dinh Dist., Hanoi, Vietnam)

3. Văn phòng đại diện của báo:

VP Hà Tĩnh: 46 Nguyễn Công Trứ, Phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Tel: 039.3.857.122

VP Đà Nẵng: 25 Nguyễn Tri Phương, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Tel: 0511.3653.725

VP HCM: số 39L đường 11 (Miếu Nổi), phường 3, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Tel: 0866786885

VP Cần Thơ: 53/13 Lý Tự Trọng, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Tel: 0710.3.733.269

 

 

Minh Hậu

Bà Bộ trưởng và bệnh vô cảm

Bà Bộ trưởng và bệnh vô cảm

Trịnh Kim Thuấn

Thứ năm ngày 25 tháng 7 năm 2013 8:55 PM

Lời kể của một thông dịch viên làm việc cho các cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam năm 1966-1967 tại một quân y viện thời ấy :
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ban đêm những tiếng rên la, hò hét, những cơn mê của những người xung quanh làm tôi mất ngủ. Tôi sợ những tiếng đó còn hơn những tiếng đại bác bắn đi từ sân Quận hay những loạt súng cối từ xa tới. Không một y tá nào tử tế với tôi hay những bệnh nhân quanh tôi. Ai cũng phải than phiền, văng tục với những y tá kiêu căng, lạnh nhat và tàn nhẫn. Họ đã coi thân thể tôi như một vật vô tri hay một con thú. Những gã đàn ông cộc cằn, phách lối và những mụ đàn bà cong cớn vô duyên. Họ cười đùa với nhau bên cạnh tiếng rên la của người bệnh. Họ chỉ sợ bác sĩ và những buổi thanh tra, những phái đoàn đến thăm ……………………………………………
(trích  Nhật Ký Người Chứng của Thái Lãng. Tủ sách Văn Nghệ Xám 1967)
Chính vì những quyển sách tương tự như thế mà chúng tôi đâm ra không thích Mỹ, không thích chế độ hiện hành, mong cho nó sớm sụp đỗ để có một xã hội mới, tốt đẹp hơn. Ngày 30/4/1975 Giải phóng miền Nam … một chế độ mới : ưu việt, dân chủ gấp triệu lần chế độ tư bản .
46 năm sau, nền y tế là :
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .   ngày 17/11/2012, chị Ngọc Anh 1 dân oan bị an ninh bắt cóc tại “Vườn hoa Dân oan” bị đánh đập dã man, phải đưa đi điều trị tại bệnh viện Saint Paul- Hà Nội. Bác sĩ Tân, vị bác sĩ “Lương y như ác mẫu” đã phán “ không tiền không trị bệnh” cho chị Ngọc Anh. Ôi ! họ vì đồng tiền và chức vị mà sinh ra vô cảm thậm chí tàn ác đến vậy ! Trong số quan chức và cảnh sát ấy, họ cũng xuất thân từ nông dân mà ra. Mỗi ngày họ ăn sản phẩm của ai ? Nếu không có nông dân họ lấy gạo và thực phẩm, trái cây ở đâu để sống ? . . . . .. . . . (Chuyện đời và tình người  NS KIM CHI).
THƯ : GỬI O TIẾN  ( Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến ).
Tôi và O sinh cùng năm. Tôi cũng đã ngồi nói chuyện với O tại nhà riêng của O ở khu biệt thự Thảo Điền về Đặng Thùy Trâm. Nói thế để O cố tình quên cái bản mặt của tôi thì cũng khó. Và tôi nói với O như thế nầy, O vào Quảng Trị, cái nơi vừa xảy ra 3 cái chết thương tâm của 3 đứa bé do cán bộ ngành của O tiêm vắc xin gây ra, 3 cái chết làm chấn động dư luận cả nước và không ít người đã khóc khi đọc tin đau đớn nầy.
Chưa kết luận nguyên nhân. Nhưng O là Bộ trưởng, là mẹ, O vào, đi hết nơi nầy đến nơi khác mà không thèm ghé thăm, thậm chí ít nhất 1 gia đình có cháu bé tử vong thì O quá tệ O Tiến ạ ! rất tệ. Cán bộ y tế – phẩm chất số 1 là không được vô cảm O ạ ! O né báo chí, O né dư luận ? Sao phải né ? Nếu chưa tìm ra nguyên nhân thì O cứ trả lời đang chỉ đạo tìm ra nguyên nhân. Còn chí ít O phải vấn an (dù là hình thức) với người nhà bệnh nhân do cán bộ ngành O gây ra chứ ? Sao thế O Tiến ?   NGUYỄN QUANG VINH  ( Khoai Lang Cu Vinh    22/7/2013).
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Hôm nay báo Tuổi Trẻ nhà mình đưa tin bà Bộ trưởng Y Tế vào Quảng Trị để dự lễ khởi  công xây dựng tháp chuông ở Nghĩa trang liệt sĩ Gio Linh đúng thời điểm xảy ra cái chết oan ức của 3 bé sơ sinh, nhưng thay vì sau đó ghé đến để thắp cho các bé một nén nhang (thời gian từ Đông Hà lên Hướng Hóa chỉ chừng 1 giờ đồng hồ), vậy nhưng bà Bộ trưởng không lên. Có thể công việc của bà quá khẩn cấp, quá quan trọng, nên bà không thể đi. Nhưng cách hành xử ấy khiến nhiều bạn trên fb đã bày tỏ bất bình, cho là bà Bộ trưởng “vô cảm”. Nói thật mình khâm phục các bạn đã lên tiếng trách móc cách hành xử của bà Tiến, vì với sự trách móc đó các bạn chứng tỏ các bạn vẫn còn quá nhiều tin cậy và hy vọng !
Sự “vô cảm” như cách mà các bạn nói về bà Tiến hôm nay khiến mình nhớ lại câu chuyện chuyến tàu E 1 lật ở Lăng Cô mấy năm trước, trong lúc cả ngành giao thông vận tải và cả nước hoảng lên vì chuyến tàu định mệnh cướp mất sinh mệnh của 1 số người dân trên chuyến tàu đó, thì ngài Bộ trưởng GTVT đương nhiệm lúc ấy ở đâu bạn biết không ? Ngài đang … tắm bùn ở khu VIP, tại khu tắm bùn khoáng Tháp Bà Nha Trang và câu chuyện ấy sau đó đã góp phần đưa ngài rời khỏi ghế Bộ trưởng.
So với sự vô cảm của ngài Bộ trưởng GTVT khi đang ở Nha Trang, nhưng tai nạn xảy ra ở tận Lăng Cô, thì chuyện bà Bộ trưởng có mặt ở Quảng Trị đúng thời điểm 3 trẻ sơ sinh chết, cho dù nguyên nhân gì thì với tư cách người đứng đầu ngành Y tế nước nhà, bà Bộ trưởng không có lý do bận bịu đến đâu để mất vài chục phút đến chia sẽ, an ủi, huống hồ bà là một phụ nữ, một người mẹ … càng khiến nhiều bạn “căm phẩn” cũng không có gì khó hiểu, vì cấp độ vô cảm có vẽ cao hơn sự hành xử của ngài Bộ trưởng GTVT năm nọ. . . . . . . .
( trích  Cái chết của 3 trẻ sơ sinh vì Vắcxin và bà Bộ trưởng Y tế của Lê Đức Dục ngày 23/7/2013  Blog Quê Choa).
Vụ bà Bộ trưởng Y tế và ngài Bộ trưởng GTVT làm tôi nhớ lại năm 2010 : Lễ khai mạc 1.000 năm Thăng Long rất hoành tráng tại Hà Nội, trùng hợp với cơn bão, lũ, lụt lớn ở miền Trung, gây chết chóc hàng trăm người, vô cùng tang thương, trong các diễn văn, diễn từ khai mạc, không 1 vị lãnh đạo cao cấp nào dành 1 phút mặc niệm cho các nạn nhân tử nạn ( họ là đồng bào ruột thịt của mình !).
Từ ngày nhận chức Bộ trưởng Y tế đến nay, bà Tiến có nhiều phát biểu … tôi nhớ 2 lần :
– Khi hỏi về tệ nạn phong bì trong các bệnh viện , bà Tiến bảo : Hãy quay phim, chụp hình các bác sĩ, y tá nào nhận phong bì gởi cho bà , thì bà sẽ xử lý ngay.
– Khi được hỏi về nạn quá tãi các bệnh nhân trong các bệnh nhân ( 1 giường bệnh 2,3 người bệnh nằm), thì bà trả lời : Hãy hỏi Chính Phủ !
Trong 2 bài bài viết của Nguyễn Quang Vinh và Lê Đức Dục có nhắc nhiều lần đến  : VÔ CẢM, vào Google thì thấy định nghĩa như sau :
VÔ CẢM : căn bệnh “ ung thư tâm hồn “. Nói đến thể xác thì sợ nhất là bệnh ung thư. Còn nói đến tâm hồn thì căn bệnh “ vô cảm “ cũng được ví dụ, bởi nó có sức tàn phá ghê gớm, tiếc thay, căn bệnh đó đang lan ra từ trong nhà ra ngoài phố (google.com.vn.giaidap).
( Sao Hồng)  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ngày 20/7/2013, đón bà Bộ trưởng không chỉ có hương hoa và những lời chúc tụng của những lãnh đạo địa phương Quảng Trị mà còn có linh hồn bay lên từ 3 xác chết của các cháu bé chưa đến 1 ngày tuổi. Thật là xui xẻo cho bà Bộ trưởng.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Thiết nghĩ bà Bộ trưởng Bộ Y Tế cần phải công khai chịu trách nhiệm cá nhân và xin lỗi trước dư luận về những vụ việc chết người liên tục của ngành Y tế gần đây. Cơ hội đó bà vừa đánh mất hôm ở Nghĩa trang Đường 9 trước các phóng viên báo, đài. Tự nhận trách nhiệm và xin lỗi dân của một Bộ trưởng khó thế sao ? Rõ ràng, bà Bộ trưởng Y Tế còn nợ với dân với cử tri cả nước một lời xin lỗi. Hơn thế nữa, bà hãy từ chức nếu có lòng tự trọng và liêm sĩ của một trí thức !  ( trích  Ngạc nhiên với bà Bộ trưởng Bộ Y Tế ! của Sao Hồng  ngày 23/7/2013).
Hình như bà Kim Tiến thích cái chức Bộ trưởng, còn các công việc phải làm của 1 Bộ trưởng thì Bà không thích, có phải thế không bà Bộ trưởng ?
Tiếc lắm thay !
                               25/7/2013   TRỊNH-KIM-THUẤN
—————

VĂN HÓA QUYỀN LỰC

VĂN HÓA QUYỀN LỰC

(Trần Huy Thuận)

Định nghĩa dưới đây về hai từ QUYỀN LỰC của “thư viện điện tử  kilobooks.com, có lẽ là định nghĩa thấu đáo nhất: “QUYỀN LỰC là một phạm trù xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người. Quyền lực là một phạm trù ghép, được tạo lên từ hai phạm trù “Quyền’’ và “Lực’’.

 

1-   Vâng! QUYỀN và LỰC tuy hai nhưng luôn là một. Cái trước là tiền đề của cái sau và ngược lại. Người có quyền trước, có lực sau; kẻ có lực trước có quyền sau. Có QUYỀN là có LỰC, không nhiều thì ít – đó là lẽ thông thường. Nhưng vẫn có trường hợp bất thường, có quyền mà vẫn chẳng có lực, quyền chỉ là “hữu danh vô thực”: Làm đến chức vua như vua Lê vẫn chịu lép vế trước chúa Trịnh là một dẫn chứng lịch sử điển hình. Lại có khi được giao quyền rất lớn, nhưng chỉ là “danh hão”, người ta đặt lên bệ làm “vì”, gọi danh thế để “lấy lòng”, để bỡn cợt, thậm chí để làm “bình phong”, che mắt thế gian,… chứ thực chẳng vương tướng gì. Về điểm này, tác giả của “thư viện điện tử” http://kilobooks.com cũng đã phân tích khá kỹ: “Trong những trường hợp chỉ có quyền mà không có lực, hoặc chỉ có lực mà không có quyền thì hoạt động của con người không mang lại kết quả như mong muốn”. Ấy là chưa kể đến trường hợp quyền thì chỉ là cái danh mờ ảo, nhưng trách nhiệm thì hiện hữu, đó là cái mà dân gian gọi  là… “quyền rơm vạ đá”!…

 

Có người sinh ra đã có “mầm mống” quyền lực, có kẻ suốt cuộc đời an phận bị sai khiến: “Con vua thì lại làm vua, con nhà sãi chùa đi quyét lá đa”. Nhưng lực thì khác. Có lực tất có quyền, không chóng thì chầy. Trừ phi cái gọi là lực ấy, chỉ là lực ảo, là sự ngộ nhận. Lực chính đáng là lực tự thân được tạo dựng trong quá trình rèn luyện, học tập, tu dưỡng… Nhưng trong thực tế, lực còn được tạo thành từ nhiều nguyên cớ khác, chẳng hạn như tiền (hoặc vật tương đương) hoặc như lực kẻ đỡ đầu, kẻ đứng khuất phía sau – tập hợp thành cái thế cho lực và thực tế, thế mới chính là sức mạnh của lực. Và không phải ngẫu nhiên mà người ta lại ghép hai từ đó lại với nhau thành cặp từ thế lực.

 

Đối với từng cá thể, con người – bằng rất nhiều con đường, hoàn toàn có thể tự định lập quyền lực cho mình từ khả năng chuyên môn cao, từ sự được cộng đồng quý trọng, từ sự có địa vị và từ sự được suy tôn, phong tước. Thực tế cho thấy, một người khi đã định lập được “khả năng chuyên môn cao”, thông thường cũng sẽ tự định lập được ba yếu tố còn lại (“được cộng đồng quý trọng”, “có địa vị chức vụ” và “được suy tôn phong tước”). Bốn yếu tố đó có thể coi là lực của quyền. Một tổ chức, một cá nhân được coi là có quyền lực đầy đủ khi hội tụ được hầu hết bốn yếu tố trên.

 

Cuộc sống con người nói riêng, động vật nói chung, suy cho cùng kỳ lý, cũng là cuộc đấu tranh sinh tồn, đấu tranh giành quyền lực, ở mức độ thấp hay ở mức độ cao; trong từng nhóm lợi ích hay trong  cả dòng tộc; trong một địa dư hẹp hay trên cả một vùng lãnh thổ; trong phạm vi một quốc gia hay trên một khu vực nhiều nước… Vấn đề không phải ở chỗ thừa nhận hay không thừa nhận có sự hiện diện cuộc đấu tranh sinh tồn ấy, Vấn đề nằm ở chỗ văn hóa quyền lực.

 

Bất cứ nơi nào, bất cứ thời buổi nào, bên cạnh thế lực chính đang điều hành cũng thường tồn tại loại thế lực khác hoạt động công khai, nửa công khai hoặc không công khai; cùng hoặc không cùng mục tiêu với thế lực chính. Cho nên kẻ đang có quyền thường không an thân, rất e sợ những thế lực khác đang mạnh lên và muốn giữ được quyền thì hoặc là tự thân phải điều hành tốt hơn, hiệu quả hơn để giử và nâng cao uy tín (cách có văn hóa); hoặc phải nhanh chóng làm suy yếu các thế lực manh nha đó, càng sớm càng tốt – Phải “bóp chết nó từ trong trứng”, để giành độc quyền (cách thiếu văn hóa). Bởi bản chất xã hội loài người từ khi có nó là luôn “Mâu thuẫn”. Chính nhờ mâu thuẫn mà xã hội phát triển, ai đã nghiên cứu Mác đều biết điều này.

 

Quyền lực được phân chia thành quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực văn hóa. Thông lệ thì “quyền lực chính trị” là thống soái, nhưng thực tế, nhiều khi “quyền lực kinh tế” lại chỉ đạo “quyền lực chính trị”. Quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế thường có giới hạn về thời gian; trái lại, quyền lực văn hóa có khả năng tồn tại qua cả không gian lẫn thời gian, trở thành thứ quyền lực vĩnh cửu. Nhửng người nắm quyền lực chính trị, kinh tế cần ghi nhớ điều này.

 

Đối với quốc gia, quyền lực chính trị cao nhất là quyền toàn vẹn lãnh thổ. Tiếp đó là tam quyền (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp). Đối với mỗi người, quyền lực chính trị cao nhất là quyền con người, trong đó trước hết là quyền được sống, tiếp đến là các quyền về Cư trú, Tự do, Dân chủ, Ứng cử, Bầu cử…Trong mỗi quyền như thế, lại được chia làm nhiều thứ quyền cụ thể như trong quyền tự do có tự do lập hội, tự do báo chí… Trong quyền dân chủ có bao hàm nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…

 

2-   Nói đến quyền, là nói đến lực, đến thế. Công việc đầu tiên của một người vừa được phong quyền, là chăm chú vào việc củng cố và tăng cường cái quyền đó – đương nhiên là bằng lực, bằng thế, bằng uy. Không thể khác. Người chưa có quyền thì cố gắng tạo lực, tạo thế để mau chóng quyền đến tay mình. Có quyền rồi thì phải nghĩ đến hành, “hành” sao cho nhanh phát huy hiệu quả, hành càng hiệu quả càng tạo uy cho quyền  –  đưa quyền  uy vào cuộc sống. Trong đó yếu tố văn hóa của chữ quyền cũng như của cặp từ quyền lực, đóng vai trò quyết định.

 

Trong phạm vi một quốc gia, mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân, nhân dân là “người” có địa vị quyền lực cao nhất  (ở đây cần nhớ câu: “đẩy thuyền là dân và lật thuyền cũng là dân”). Đó là cái văn hóa trước nhất cần có của “người, tổ chức nắm quyền lực”. Hống hách, cậy quyền cậy thế, áp đặt tư duy, lợi dụng chức quyền… đều là thứ quyền lực văn hóa.

 

Quyền lực cần phải được thể chế hóa bằng hiến pháppháp luật. Không, tuyệt đối không có một thứ quyền lực nào đứng trên, đứng ngoài hiến pháp và pháp luật. Quyền lực còn phải được đặt dưới sự giám sát của nhân dân, đúng như  ý kiến của thiếu tướng Lê văn Cương trong cuộc tọa đàm “giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị” do tạp chí Cộng sản tổ chức ngày 10/5/2011(vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/20255/): “Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ”. Vâng, đấy chính là điều kiện tiên quyết của một xã hội Dân chủ, Văn minh. Chỉ có thứ quyền lực đen mới không tuân thủ những quy định đó.

 

Văn hóa quyền lực quyết định nền văn minh xã hội. Chúng ta cứ hay nhắc đến giữ gìn “Bản sắc văn hóa dân tộc”, nhưng không nói rõ được “Bản sắc” đó là gì. Nếu cứ bám lấy nhưng thể chế văn hóa thủ cựu, văn hóa làng xã, văn hóa thống trị thời nô lệ, thời phong kiến, thì không bao giờ văn minh, không bao giờ hội nhập được. Phải mở tầm mắt mà nhìn ra thế giới. Cuối cùng, văn hóa phải được thể chế hóa vào Hiến pháp. Làm được như thế, dù thế lực nào nắm quyền, đất nước cũng không rơi vào tình trạng phi dân chủ, độc quyền, độc đóan.

 

Cuối cùng, cũng cần nói thêm: văn hóa quyền lực không phải chỉ là đòi hỏi của phía người không có quyền mà còn chính là nhu cầu tự thân của bản thân quyền lực. Bởi chính yếu tố này đã tạo điều kiện đồng thuận xã hội, giúp cho quyền lực được phát  huy. Và nếu xét trên bình diện đó, thì có thể khẳng định văn hóa quyền lực còn quan trọng hơn quyền lực.

 

Chính vì lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng, trước khi trao quyền, cơ quan và cá nhân được trao cần phải được giáo dục đầy đủ về văn hóa quyền lực. Chỉ khi thống nhất được các nhận thức cơ bản trên, chúng ta mới có thể hiểu được ý nghĩa câu Hồ Chí Minh hay dùng: “giành chính quyền khó, giữ chính quyền khó hơn” –   Đó vừa là lý luận vừa là hành động, vừa là thực tiễn lại vừa là chân lý vậy.

NGU, BIẾT NGU và NGU, KHÔNG BIẾT NGU!

NGU, BIẾT NGU  và NGU, KHÔNG BIẾT NGU!

(Trần Huy Thuận)

 

Con người ta sinh ra, có kẻ thông minh, có kẻ ngu tối.

Có trẻ sinh ra đã bộc lộ tư chất thông minh, có trẻ vừa chào đời”, sự đần độn đã hiện ngay ra nét mặt.

Trẻ thông minh, lớn lên chưa chắc đã duy trì được như vậy và ngược lại.

Một nhà bác học nói: “Thông mình 99% là do nỗ lực học tâp, chỉ có 1% là nhờ bẩm sinh” – câu nói có vẻ thiên về động viên và khiêm tốn hơn là thực tế.

Thông minh hay ngu tối có thể do bẩm sinh, có thể do không chịu học. Thông minh do bẩm sinh nhưng không được bồi bổ liên tục bằng sự học, thì sự thông minh sẽ dần bị hạn chế. Ngu tối do ít học, có thể được cải thiện bằng sự nỗ lực vượt bực trong học tập. Ngu tối do bẩm sinh thì thường khó thay đổi.

Khôn ngoan là biểu hiện của thông minh (W. Goethe nói: Trí thông minh làm cho ta thấy mình khôn ngoan hơn). Người thông minh thường nhận ra “Càng học càng thấy dốt”. Bởi khôn ngoan là thấy được sự giới hạn của bản thân mình – đó chính là sự khiêm nhường. Vậy có thể nói, người sống khiêm nhường chính là người thông minh. Kẻ dốt nát, biết một đã tưởng hiểu mười! Người khôn ngoan là người biết sống để mọi người nể phục, kẻ ngu dại toàn thích làm những điều gây sự khó chịu cho người khác (Ca dao xưa có câu: “Khôn cho người ta dái (kính nể), dại cho người ta thương, dở dở ương ương cho người ta ghét”). Người thông minh mà khiêm tốn, thì sự thông minh của người ấy càng nhân lên, càng phát huy, càng tập hợp được nhiều người thông thái bên mình. Người tự phụ, tự cao, tự đại, vỗ ngực,… chính là người không thông minh và từ đó chỉ có thể lôi kéo về quanh mình những kẻ “cùng hội cùng thuyền” với mình (“Gần người ngu thì dại/ Gần kẻ nịnh hót thì a dua/Gần đứa tham lam thì trộm cắp” – Mạnh Tử).

Sống hoặc làm việc với người thông minh thường dễ chịu và dễ thay đổi được chỉ số IQ theo hướng tăng lên (Mạnh Tử nói: “Gần người hiền thì sáng, gần người tài thì thông”). Ngược lại, gần người ngu tối thường dẫn đến bực mình, đần độn theo: Rồng vàng tắm nước ao tù/ Người khôn ở với người ngu bực mình. Hoặc là: Trăm năm ở với người đần/ Không bằng một lúc ở gần người khôn. Lại nữa: Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại.

Câu nói: “ngu si hưởng thái bình” chỉ nói lên điều không ai muốn “chấp”, muốn “dây” với kẻ ngu!

Để khen một ai đó thông minh, chúng ta chỉ có mấy chữ như “thông minh”, “tháo vát”, “giỏi giang”, “tài ba”, “lỗi lạc”, “năng động”, “xuất chúng”,…

Để chê một người ngu tối thì xem ra có rất nhiều hình dung từ: “tối dạ”, “ngu như lợn”, “ngu như bò”, “ngu như chó”, “ngu hết chỗ ngu”, “ngu hết phần ngu của người khác”, “ngô nghê như bò đội nón”, “đồ đần độn”, “dốt đặc cán mai”…

Có kẻ ngu thật và có cả kẻ giả ngu. Giả ngu cũng có hai loại: Loại giả ngu để từ chối hợp tác và loại giả ngu để được hợp tác, được thăng quan tiến chức.

Kẻ ngu tối tự biết mình ngu, là cái phúc cho cộng đồng. Nhưng kẻ ngu tối không biết mình ngu, cứ “vô tư ngu” mới thực sự là nguồn thảm họa đối với tất cả những người sống trong vòng ảnh hưởng của sự ngu tối đó của anh ta – Chính đây mới là loại người nguy hiểm đối với xã hội. Mác nói: “Dốt nát là sức mạnh của ma quỷ

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không hiếm gặp kẻ ngu không những không nhận ra mình ngu, trái lại còn vỗ ngực cho mình là kẻ thông minh. Thật đau lòng, nếu kẻ đó lại nắm giữ một chức quyền nào đó trong xã hội, lại thường xuyên đi rao giảng “điều hay, lẽ phải”, lại thích đóng vai “mẫu nghi”… của thiên hạ! Do vị thế quyền lực, loại người này thường không nhận được sự đánh giá trung thực của cấp dưới về “chỉ số IQ” của mình, ngược lại, anh ta thường xuyên được bọn xu nịnh vây bọc tán dương lên tận mây xanh, nên đã ngu, càng ngu – ngu mà không biết mình ngu!.

Chẳng lẽ người Việt Nam đi đâu cũng phải ’đeo mo’?

Chẳng lẽ người Việt Nam đi đâu cũng phải ’đeo mo’?

(Đời sống) – Có lẽ thời gian gần đây hình ảnh người Việt xấu xí dày kín mặt báo khi hàng loạt những điều tiếng không hay về người Việt ở trong nước cũng như nước ngoài.

NGUỒN: http://phunutoday.vn/xa-hoi/doi-song/201306/chang-le-nguoi-viet-nam-di-dau-cung-phai-deo-mo-2215997/
Mới đây, Peaw Sumaporn Wandee sinh năm 1991, đang sống ở Bangkok (Thái Lan), là người dẫn chương trình của kênh truyền hình dành riêng cho nam giới Maxxi TV. đã thắng thắn lên Facebook của cô để chê những người Việt Nam thiếu văn hóa.

Wandee là một người được nhiều khán giả ái mộ nên Facebook cá nhân của cô có đến 200.000 lượt theo dõi thông tin trong đó có cả người Việt Nam. Nhưng một số cư dân mạng Việt Nam đã để lại nhiều lời bình luận (comment) có nội dung không lịch sự, thiếu văn hóa đối với Wandee ngay trên trang Facebook cá nhân của cô, thậm chí hỏi cô… “có phải là pede (người đồng tính) hay không”! Trước những lời bình luận thiếu văn hóa, Wandee viết status như sau:

Hotgril Thái Lan cho rằng bạn trẻ VN thiếu văn hóa
Hotgril Thái Lan cho rằng bạn trẻ VN thiếu văn hóa

“Gửi các bạn VN. Tôi rất không ưa khi các bạn lấy hình chụp của tôi đăng tải lên những trang web không phù hợp và có những lời lẽ bình luận thô tục. Các bạn bình luận gì tôi không hiểu, nhưng xin phép được xóa hết những bình luận của người VN”.

Wandee viết thêm: “Tôi biết là có người hiểu và không hiểu nên xin lỗi những bạn nào có ý tốt thật sự. Còn với những bạn không tôn trọng tôi thì tôi cũng không cần phải giao lưu làm gì cả!”.

Ngoài ra cũng có status Wandee viết rằng cô “rất không thích và bực bội” khi nhiều bạn trẻ Việt Nam bình phẩm trên trang Facebook của cô bằng tiếng Việt. “Nếu muốn trò chuyện với tôi thì hãy viết tiếng Anh, hiểu không?”, Wandee tức giận.

Ngay sau khi status của Wandee phát đi, nhiều người cho rằng đây thực sự như cái tát vào người Việt Nam. Một bạn đọc bình luận “Đọc xong, cảm giác như bị “tát vô mặt”. Thật buồn. Không biết những bạn trẻ làm “xấu mặt”, xấu hình ảnh giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về điều này? Làm sao để chúng ta chứng minh cho bè bạn thế giới biết giới trẻ Việt Nam có văn hóa, văn minh và những kẻ cư xử bất lịch sự trên mạng chỉ là một bộ phận nhỏ?”

Vài ngày trước, một bức ảnh được đăng tải trên Facebook của Hội những người Việt Nam ở Nhật đăng tải. Trong ảnh, có thể thấy rõ ràng tấm biển “Cảnh Cáo” được viết bằng tiếng Việt, và phần dịch sang tiếng Nhật được viết nhỏ hơn bên dưới.

Những lời cảnh cáo được viết bằng tiếng Việt cụ thể là: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức. Camera phòng chống tội phạm đang hoạt động. Tăng cường điều tra”.

Thực hư của tấm biến chưa được cho biết chính xác nhưng rất nhiều ý kiến cho rằng đối tượng bị cảnh cáo trong tấm biển chính là người Việt bởi “không có lửa thì làm sao có khói”. Phải chăng nhiều khách Việt đã “gửi” lại ấn tượng không đẹp đẽ trong mắt những người bạn Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ?

Biển cánh báo ăn cắp bằng tiếng Việt ở Nhật Bản
Biển cánh báo ăn cắp bằng tiếng Việt ở Nhật Bản

Tháng 9/2012, một bức hình được cho là chụp tại một nhà hàng buffet ở Thái Lan đã khiến cộng đồng mạng nổi sóng và đặt ra những suy nghĩ về văn hóa ứng xử của một số du khách Việt Nam khi đi du lịch nước ngoài.

Tấm biển cảnh báo của nhà hàng này ghi dòng chữ Việt: “Xin vui lòng ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nếu ăn không hết sẽ phạt từ 200 baht đến 500 baht. Xin cảm ơn!”.

Bức ảnh đã gây nên nhiều ý kiến trái chiều trên các diễn đàn và Facebook. Rất nhiều cư dân mạng bày tỏ họ xấu hổ với những hành động xấu xí của một bộ phận người Việt ở nơi đất khách, khiến người dân ở đó phải treo biển “phân biệt đối xử”.

Hồi tháng 10/2011, một nhóm 8 người Việt Nam bao gồm 5 nữ và 3 nam đã bị toà án Singapore tuyên phạt tù từ 8 đến 18 tháng tù vì các hành vi liên quan đến trộm cắp tiền, điện thoại di động và các thứ vật dụng khác trị giá 13.000 SGD (gần 220 triệu đồng) tại các cửa hàng ở khu Chinatown, Bugis, Marine Parade, Raffles Boulevard… trong thời gian cuối tháng cuối tháng 8/2011.

Hình ảnh người Việt đang xấu xí dần trong con mắt người nước ngoài. Không chỉ ở ngoài lãnh thổ, mà ngay ở trong nước khách nước ngoài cũng dị ứng với Việt Nam khi nạn “chặt chém”, trộm cắp diễn ra giữa thanh thiên, bạch nhật ở các khu du lịch trong cả nước.

Ấy vậy mà, Bộ trưởng Bộ TT, VH&DL vẫn cho rằng khách nước ngoài vẫn thích Việt Nam lắm. Có lẽ, bộ trưởng nghĩ ai cũng giống mình hài hước, thật thà nên người ta quý mến.

  • Phạm Thủy

Gái mại dâm Quất Lâm tiếp 30-40 khách/ngày

Gái mại dâm Quất Lâm tiếp 30-40 khách/ngày

> Phó Thủ tướng yêu cầu Nam Định, Hải Phòng, TP HCM kiểm tra nạn mại dâm

> Mại dâm Đồ Sơn thay đổi ‘chiến thuật’

 

Thu nhập một tháng của mỗi gái mại dâm có thể lên tới 35-40 triệu đồng, bét ra cũng phải 15-20 triệu/thángtháng. Một gái mại dâm ở Quất Lâm một ngày tiếp 30-40 lượt khách là chuyện bình thường.

Các đào đều ký với chủ một hợp đồng có thời hạn, sổ sách được hai bên ghi chép cẩn thận. Giữa các kiốt cũng có “luật” không được phá giá.

 

Các cô gái ở Quất Lâm đang chờ đợi khách. Ảnh Vietnamnet
Các cô gái ở Quất Lâm đang chờ đợi khách. Ảnh Vietnamnet.

 

Đã từ lâu, bãi biển Quất Lâm (huyện Giao Thủy, Nam Định) đồng nghĩa với thứ gì đó rất hư hỏng, chơi bời. Cánh đàn ông khi rủ nhau đi đều nháy mắt với nhau một cách rất… ẩn ý, tinh quái. Mặc dù người ta xuống vùng biển này có thể đơn thuần với lý do trong sáng là tắm biển, nhậu hải sản nhưng bất kỳ người đàn ông nào xuống nơi thị phi này đều có thể bị gán cho tiếng xấu là đi “chơi” gái; còn phụ nữ đi Quất Lâm thì sẽ bị mọi người nhìn bằng con mắt ngạc nhiên, không hiểu nổi là “xuống đó để làm gì”.

Ngoài bãi biển Quất Lâm có khoảng 120 kiốt, dãy bên phải đánh số chẵn, bên trái đánh số lẻ. Tại mỗi kiốt đều phục vụ ăn uống đồ hải sản và rất nhiều em ăn mặc mát mẻ, đứng ngồi phía trước để mời gọi các khách đàn ông đi qua.

Thấy 3 gã thanh niên vè vè đi xe máy và không ngừng ngó nghiêng, chủ quán và các em nhân viên trong các kiốt thi nhau cất tiếng mời gọi: “Vào đây anh ơi”. Nếu không cất tiếng mời mọc thì cũng là cái vẫy tay hoặc nụ cười đầy ẩn ý. Một số kiốt, do đang thời điểm trưa, có nhiều “em út” đang ngồi đánh bài, cười đùa. Ở ngoài đường, thi thoảng lại có chiếc xe tay ga, trên đó là 1-2 cô gái ăn mặc mát mẻ, đi đến các kiốt, nhà nghỉ phục vụ khách.

Ba người quyết định ghé vào một kiốt quen thuộc. Tiếp họ là ông bà chủ quán không có dáng gì là chủ chứa mà trông rất chân chất, xởi lởi. Khi khách đánh tiếng hỏi: “Hôm nay có em nào “ngon ngon” không”, thì bà chủ cho biết, kiốt có 3 em, nhưng hôm nay người thì “đến tháng”, người thì kêu mệt, nên ông bà chủ đều cho nghỉ, không phải tiếp khách. Nhưng nếu khách muốn “chơi” thì họ sẵn sàng điều gái từ kiốt khác.

Vừa ăn uống, một anh sành sỏi, đưa mắt ngắm từng em đang lướt xe tay ga trên đường, vừa “đi khách” xong. “Chấm” một em tóc dài, anh ta gọi chủ quán “điều” hàng. Chủ quán, sau một cuộc điện thoại chớp nhoáng, bảo lại rằng: “Ok, vào phòng đi, đến ngay đấy”.

Căn phòng ngủ nằm ngay ở trong kiốt, đó là một căn phòng khép kín, có cả nhà vệ sinh nhưng xộc lên mùi tanh tưởi và ẩm mốc. Cùng với đó là chiếu, chăn, khăn mặt trông rất nhếch nhác, bẩn thỉu còn nền căn phòng ướt nhớt nhát.

Một em bước vào sau tiếng gõ cửa. Sau khi cất lời chào, em này đã cởi áo và giục khách cùng cởi, vào nhà vệ sinh rửa ráy. Sau vài câu bông đùa, tâm sự nhẹ nhàng, cô gái cho biết, em là My, quê ở Quảng Ninh. My nói: “Năm ngoái, sau khi thi trượt đại học, em có một thời gian làm bồi bàn trên Hà Nội. Lương thấp, lại trải qua một vài mối tình thất bại nên em thấy chán. Nghe một cô bạn rủ xuống Quất Lâm để kiếm tiền, vậy là em đi luôn”.

My bảo, mới làm ở đây mới được hơn một tháng. Khi xuống đây, như nhiều gái mại dâm khác, cô ký hợp đồng với ông, bà chủ, có thời hạn 2 tháng. “Hết 2 tháng em mới được lấy tiền công. Hằng ngày, tiếp bao nhiêu khách, ông bà chủ sẽ ghi vào sổ. Bản thân em cũng ghi các lượt tiếp khách của mình vào. Nếu muốn lấy tiền trước khi “hợp đồng” kết thúc thì ông bà chủ cũng sẽ ứng trước. Việc ứng tiền này sẽ được ghi chép cụ thể vào sổ để tính toán”, My kể và cũng cho biết thêm, sau khi hết 2 tháng hợp đồng, nhân viên có thể lựa chọn ký tiếp hoặc nghỉ.

Thông thường, gái mại dâm ở đây đều ký hợp đồng với ông bà chủ có thời hạn 2-3 tháng. Cũng có trường hợp lên đến một năm. Có nhiều người chỉ “làm thêm” ở đây vài tháng, nhưng cũng có nhiều gái mại dâm đã có thâm niên tại đây đến vài năm.

Mỗi lần bán dâm có giá là 130.000 đồng. Trong trường hợp khách đi gái mại dâm của kiốt đó, thì chủ kiốt được 90.000 đồng, gái mại dâm được 40.000 đồng; nếu khách không ưng gái tại kiốt đó, chủ sẽ gọi gái ở kiốt khác thì gái được 40.000 đồng, chủ kiốt được 50.000 đồng, chủ kiốt cung cấp gái được 40.000 đồng.

Dù mỗi lần đi khách chỉ được số tiền bèo bọt 40.000 đồng, nhưng thu nhập của các gái mại dâm ở đây lại rất khủng. Vào những thời gian cao điểm, khách nhiều, thu nhập một tháng của mỗi gái mại dâm có thể lên tới 35-40 triệu đồng, bét ra thì cũng phải 15-20 triệu một tháng.

My cho biết: “Bọn em chẳng ai động đến số tiền trả công tiếp khách. Ăn uống thì đã có chủ lo. Ngoài ra còn có từ tiền bo của khách. Có hôm em được bo một triệu đồng”. Vì vậy, khách đến đây có thể thấy rất nhiều gái mại dâm đi xe tay ga để tiện di chuyển từ kiốt nọ đến kiốt kia.

Nhiều em ở đây mỗi tháng gửi hàng chục triệu về cho gia đình bằng chuyển phát nhanh, hoặc bằng cách về trực tiếp thăm nhà. Tất nhiên, để kiếm được số tiền “khủng” ấy, họ cũng phải trả giá rất nhiều. Một gái mại dâm ở Quất Lâm một ngày tiếp 30-40 lượt khách là chuyện bình thường, nhất là với những người nổi bật về nhan sắc và hút khách.

Có những trường hợp bị chủ ép phải tiếp khách đến mệt lử, phải uống thuốc trợ lực mới có thể gượng được. Họ phải trả giá rất đắt về sức khỏe, nhan sắc tàn tạ nhanh, nguy cơ “dính” bệnh tật rất cao. Một gái mại dâm cho biết, ức chế nhất là gặp những trường hợp khách say rượu, họ yêu cầu đủ mọi trò kỳ quái, phục vụ rất mệt.

Mỗi kiốt gần bờ biển này đều nuôi gái mại dâm. Kiốt nuôi nhiều nhất là 8 người; còn ít thì cũng phải 3 người. Như vậy, với số kiốt trên, tại bờ biển này có khoảng 400-500 gái mại dâm hành nghề. Các kiốt ở đây đều phải tuân thủ luật “bất thành văn” là không được phá giá. Ở bất kỳ kiốt nào, mỗi lượt đi khách đều có giá đồng hạng 130.000 đồng.

Các chủ cửa hàng ở đây có mối liên hệ để cung cấp gái mại dâm với nhau rất chặt chẽ, thông qua điện thoại di động. Nếu khách ngồi ăn uống mà ưng gái mại dâm nào đang đi trên đường, thì chỉ cần một cuộc gọi, chủ kiốt đã có thể điều đến ngay lập tức.

Mối quan hệ giữa ông bà chủ và gái mại dâm ở đây cũng khá thân thiết. Ngoài một vài trường hợp chủ ép gái phục vụ tới kiệt sức thì ở một số quán họ đối xử với nhau như người cùng một nhà, cùng ăn uống, trò chuyện vui vẻ. Ông bà chủ ăn gì thì các cô gái bán thân này cũng được ăn như vậy. Gái mại dâm không phải nấu ăn, nhưng khi kết thúc bữa cũng góp tay để thu dọn bàn ăn. Nhiều cô còn buông lời trêu chọc, cười đùa với bà chủ.

Theo Báo Lao động

Thời hoa đỏ và… thời nhận lỗi

Thời hoa đỏ và… thời nhận lỗi

Cũng có nhận xét cho rằng, không ít người có trách nhiệm trong đó, không hề phải trải qua Thời hoađỏ, đầy hy sinh như người lính Phan Hữu Được, mà họ chỉ có… thời nhận lỗi.Trong tuần, có một câu chuyện, lặng lẽ và xót xa như số phận con người ấy, nhưng lập tức, gây ấn tượng mạnh cho người viết, và cho nhiều bạn đọc. Đó là chuyện “phục sinh” của “liệt sĩ” Phan Hữu Được (thôn Tự Tiên, xã Tiên Minh, Tiên Lãng – Hải Phòng). Chỉ còn hơn 20 ngày nữa là đến cái giỗ thứ 40 của ông, thì ông đột ngột trở về.

Thời hoa đỏ…

Sự trở về của người tưởng đã vĩnh viễn nằm dưới đất đen bất ngờ như cổ tích, như những trang văn chương một thời lay động con tim bao người Việt. Khi mà ký ức những người thân của ông, cỏ xanh đã mọc dày, che kín nỗi đau mất mát ruột thịt ngày nào…

Chiến tranh là bi thảm. Nhưng may mắn cho ông Phan Hữu Được, cái kết cuối cùng vẫn là có hậu, vẫn rất “hữu được”, như cái tên cha mẹ sinh thành đã đặt cho ông.

Cho dù, khoảng cách giữa sự quyết liệt dâng hiến- tự nguyện đổi tên thành Phạm Văn Được, “trả vợ”- cô gái xinh đẹp tên là Lý ở huyện bên, ăn vạ nhà xã đội, để được cầm súng lên đường bảo vệ độc lập, tự do dân tộc (vì ông thuộc diện miễn nghĩa vụ quân sự) với cái kết “phục sinh” hôm nay quá dài, tới 40 năm.

Giữa 40 năm đó, người lính Phan Hữu Được là đứa con của trời, của đất, của sự lang thang vô định, vô thức, lúc điên lúc tỉnh với hàng chục vết thương từ đầu đến chân. Những ấm lạnh, những đói no, khổ sở của cuộc đời đến với chàng lính trẻ 26 tuổi, thì Phan Hữu Được không nhớ, mà chỉ nhớ rất rõ những câu chuyện chiến tranh.

Không rõ ông có nhiều lần khóc vì thân phận “mồ côi” của mình không giữa những nẻo đường đời xa lạ, hoàn toàn không nhớ nổi gia đình, người thân, họ hàng ruột thịt…, nhưng ông đã khóc vì tủi, vì mừng, vì buồn, vì đau khi trở về gặp mặt đồng đội, người còn sống, người đang nằm “nhớ nhà” giữa nghĩa trang?

Con tim đang đập của người sống, và con tim vĩnh viễn ngừng đập của những người đã khuất, dường như vẫn giao cảm, vẫn đồng cảm ở đâu đó, nơi xa vắng?

Cho dù thân thể tiều tụy của người lính già ấy mang đầy bệnh trọng, di họa của những tháng ngày phiêu bạt, lưu lạc: U gan, u xương đầu gối, viêm gan C với lượng men gan quá cao; sỏi túi mật, những vết xương gãy từ rất lâu không được chữa trị. Nhưng có lẽ, đây lại là những tháng ngày hạnh phúc của đời ông?

Ông đã sống trọn vẹn với “chí làm trai thời loạn”. Còn giờ, câu hỏi “hạnh phúc của đời ông” không thuộc về ông nữa, mà thuộc về những người cán bộ có trách nhiệm của Hải Phòng nói chung, của Tiên Lãng nói riêng. Được biết, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội cũng bắt đầu vào cuộc, tìm hiểu để có chính sách thỏa đáng với ông. Mong điều đó sớm thành hiện thực.

Chợt nhớ đến hai ca khúc đặc sắc nổi tiếng, khi đất nước chìm trong giông bão chiến tranh: Thời hoa đỏ (thơ Thanh Tùng, nhạc Nguyễn Đình Bảng), và Màu hoa đỏ (thơ Nguyễn Đức Mậu, nhạc Thuận Yến). Mỗi ca khúc đều có những ca từ đẹp náo động và bình yên, đắm say và day dứt, gửi đi một thông điệp riêng, sâu sắc, tràn đầy tình yêu- tình yêu trai gái, và tình yêu đất nước…

Phan Văn Được, liệt sĩ trở về, Dương Trung Quốc, hội chứng nhận lỗi, thời hoa đỏ
Ông Phan Hữu Được bên phần mộ của chính mình – Ảnh: Dân trí

Nếu ở Thời hoa đỏ, Anh mải mê về một màu mây xa/ Cánh buồm bay về một thời đã qua/ Em thầm hát một câu thơ cũ/ Về một thời thiếu nữ say mê (về một thời hoa đỏ diệu kỳ). Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh xao xác đỏ tươi/ Như nuối tiếc một thời trai trẻ

Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi/ Như tháng ngày xưa ta dại khờ/ Ta nhìn sâu vào trong mắt nhau/ Trong câu thơ của anh, em không có mặt…

Thì ở Màu hoa đỏ, lại là Có người lính/ Mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo? Có người lính/ Mùa xuân ấy ra đi từ đó không về/ Dòng tên anh khắc vào đá núi/ Mây ngàn hóa bóng cây tre/ Chiều biên cương trắng trời sương núi/ Mẹ già mỏi mắt nhìn theo.

Việt Nam ơi! Việt Nam/ Núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con/ Việt Nam ơi! Việt Nam/ Ngọn núi nơi anh ngã xuống/ Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa/ Rực cháy lên màu hoa đỏ phía hoàng hoàng hôn…

Với Phan Hữu Được, dường như, cả hai ca khúc mới gói trọn vẹn được số phận ông. Cả sự mất mát tình yêu trai gái, vì nước dấn thân, cả sự ra đi từ đó không về….

Giờ đây, ông đã trở về. Sự sống của ông được đánh đổi bằng giá quá đắt, không thể chỉ tính bằng 40 năm phiêu bạt, không nhớ nổi mình là ai.

Nhưng còn bao nhiêu những người lính như Phan Hữu Được khác, chưa có cơ hội, cơ may “phục sinh”, bởi chiến tranh?

Cũng đâu chỉ có một Phan Hữu Được, hay nhiều Phan Hữu Được đã sống cả một Thời hoa đỏ đẹp đẽ, tuyệt vời, dâng hiến.

Mà cả dân tộc Việt này, đã sống can trường với một Thời hoa đỏ, với mộtMàu hoa đỏ đầy sinh ly tử biệt… để đất nước độc lập, trường tồn, để dân tộc có thể ngẩng đầu và kiêu hãnh.

…Và thời nhận lỗi

Cũng kỳ lạ, số phận mỗi con người dù bé nhỏ đến đâu, cũng mang một phần lịch sử (*). Nhưng đồng thời, số phận một dân tộc có khi cũng có thể “nhìn” thấy qua số phận một cá nhân.

Giống như người chiến binh Phan Hữu Được, từ trong chiến tranh bước vào hòa bình, trải qua gần 40 năm xây dựng, nước Việt dường như cũng đang “đau yếu”, mắc phải quá nhiều trọng bệnh: Tham nhũng, hối lộ, các nhóm đặc quyền đặc lợi- “nhóm lợi ích”- chi phối không ít lĩnh vực, thói dối trá, sự băng hoại đạo đức, văn hóa từ những ngành cần nhiều nhân tâm nhất, và cảsự suy thoái phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

Và vào giữa lúc này, Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII vừa khép lại, với cuộc lấy phiếu tín nhiệm- một sinh hoạt dân chủ mang dấu ấn lịch sử, lần đầu tiên diễn ra trước sự theo dõi, chứng kiến của nhân dân. Kết quả của cuộc lấy phiếu tín nhiệm phản ánh một dấu hiệu đáng mừng trong hoạt động của cơ quan lập pháp.

Nhưng chắc chắn, còn rất nhiều vấn đề phải hoàn thiện, và điều quan trọng hơn, từ “phép thử” của nghị trường- những đại biểu của nhân dân, trở về với “đời thường”, họ sẽ sống với nhân dân của họ ra sao.

Có được như nữ sĩ Xuân Quỳnh đã “Tự hát”, bởi khao khát được yêu, được tin? Em trở về đúng nghĩa trái tim/ Biết làm sống những hồng cầu đã chết/ Biết lấy lại những gì đã mất/Biết rút gần khoảng cách của yêu tin.

Khi mà mới đây, tại cuộc tiếp xúc với cử tri Q. 1, t/p Hồ Chí Minh, trước những băn khoăn của các cử tri, về vấn nạn tham nhũng, lãng phí, về chế tài răn đe những vấn nạn này chưa đủ sức mạnh trừng phạt, ngăn ngừa, về lời hứa của các Bộ trưởng trước dân liệu có thực hiện, vị Chủ tịch nước bày tỏ:Những ai đó có lỗi mà không nhận, không sửa sẽ mất uy tín, còn ai có lỗi dám nhận, dám sửa, thì nhân dân, Đảng sẽ tha thứ!

Bao dung, tha thứ là truyền thống đối nhân xử thế đầy lòng vị tha, nhân ái của dân tộc Việt. Dù vậy, nếu suy ngẫm kỹ, thì mong muốn của người dân với những cán bộ trọng trách, cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp không chỉ là nhận lỗi, hay xin lỗi, mà những ai đó hãy biết sửa lỗi bằng việc làm thiết thực, cụ thể.

Bởi người dân chưa quên, nhiều năm trước đây, từng có hiện tượng các quan chức làm sai, năng lực quản lý yếu kém nhưng chưa bao giờ dám nhận lỗi, xin lỗi trước dân. Đừng nói đến xin từ chức- một cách ứng xử văn hóa hiếm như mò kim đáy biển.

Dưới áp lực dư luận xã hội, và sự thay đổi của nhận thức, sự xin lỗi, nhận lỗi công khai về trách nhiệm của mình, đã được nhiều quan chức thực hiện. Đó là một bước tiến trong văn hóa lãnh đạo.

Thế nhưng, người dân cũng chưa quên, có lúc, có những khi, cái sự xin lỗi nó dễ dàng quá, đến mức thành “hội chứng xin lỗi”. Đã nói “hội chứng” là ám chỉ đến tính phổ biến đến mức nhàm. Sự trân trọng của người dân bỗng biến thành hoài nghi, thậm chí… đàm tiếu.

Chả thế, kết thúc Kỳ họp thứ 4, QH khóa XIII, tháng 12/ 2012, trả lời phỏng vấn, ông Vũ Mão đã có phát ngôn thẳng thắn: Ước vọng của nhân dân là các bộ trưởng hứa ít làm nhiều! Điều đó, có nghĩa trong thực tế, các bộ trưởng đang còn ở trạng thái nói nhiều, làm… chưa nhiều.

Cũng tại kỳ họp đó, người ta thống kê, có những bộ trưởng “sở hữu” nhiều lời xin lỗi, hoặc đã thành khẩn xin lỗi, nhưng thực trạng của ngành họ quản lý đến nay chưa thấy… cái lỗi được sửa.

Phan Văn Được, liệt sĩ trở về, Dương Trung Quốc, hội chứng nhận lỗi, thời hoa đỏ
Dương Trung Quốc: Lời xin lỗi cũng có thể bị lạm dụng để che đậy sai phạm. Ảnh: Lê Anh Dũng

Xin lỗi QH, xin lỗi nhân dân về bổn phận, trách nhiệm của mình chưa làm tròn, đã là tốt, nhưng hành động sửa lỗi chắc chắn còn tốt hơn. Bởi nếu không, như dân gian từng triết lý, sẽ chỉ lời nói gió bay…

Không nhận lỗi, xin lỗi vì năng lực yếu kém có thể khiến dân mất niềm tin. Nhưng xin lỗi nhiều, nhận lỗi nhiều mà không hành động để sửa lỗi, thì cũng khiến người dân mất niềm tin không kém.

Thế nên, không phải không có lý khi ông Dương Trung Quốc có một phát ngôn thật ấn tượng: Lời xin lỗi cũng có thể bị lạm dụng để che đậy sai phạm, xin lỗi nhiều quá thì thành mị dân, lợi dụng lòng thương của người khác. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta khó có thể chấp nhậnnhững lời xin lỗi suông.. . Quả là không còn gì ấn tượng hơn.

Từ Thời hoa đỏ, đến thời nhận lỗi, là một khoảng cách gần 40 năm đầy những thăng trầm, biến thiên lịch sử. Giữa 40 năm đó, nước Việt có biết bao thay đổi, phát triển nhờ dám Đổi mới.

Ở góc độ nhân sinh và triết học, khoảng cách gần 40 năm đó, vừa là sự đi lên, vừa có dấu hiệu của sự… suy thoái. Cũng có nhận xét cho rằng, không ít người có trách nhiệm trong đó, không hề phải trải qua Thời hoađỏ, đầy hy sinh như người lính Phan Hữu Được, mà họ chỉ có… thời nhận lỗi

Mà giờ đây, trên hành trình hội nhập văn minh, nước Việt cũng có biết bao thử thách và hiểm họa tụt hậu, thậm chí có nguy cơ ảnhhưởng đến sự tồn vong của chế độ, bởi sự suy thoái của không ít cán bộ, đảng viên.

Chợt nghĩ về hai câu chuyện thật sâu sắc và rất đáng suy ngẫm.

Đó là câu chuyện về những chiếc quan tài gỗ chôn người chết của dân tộc Cơ Tu ở làng Aur  (xã A Vương, miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) được đăng đăng trên báo LĐĐS (ngày 23/6) mới đây. Những chiếc quan tài “biết nói” về nhân cách của người chết, khi họ còn đang sống.

Những chiếc quan tài dành cho người chết được đóng bằng gỗ gì, không phải do gia tộc quyết định, mà do hội đồng làng. Nếu người quá cố nguyên là người sống tốt, sẽ được làng tổ chức đóng quan tài bằng loại gỗ quý, sắc màu hồng, đỏ, rực rỡ. Còn với người sống “chẳng ra gì”, quan tài là loại cây khộp, chưa bỏ xuống đất đã bị mối, mọt ăn… Vì vậy, dẫu là người lạ ngang qua làng, chỉ nhìn vào chiếc quan tài có thể biết ngay rằng, người nằm trong kia sinh thời đã sống thế nào”…

Đó là “Bài văn 200 triệu đồng” (ViêtNamNet, ngày 26/6)-  là số tiền học bổng Nguyễn Văn Đạo mà tác giả của nó, em Minh Hoàng, một học sinh THPT chuyên thuộc ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) đã giành được, khi viết một bài luận.

Không đơn thuần là chuyện chữ nghĩa, văn chương. Bài luận đó, được viết ra bằng chính sự trải nghiệm tích cực của một đứa trẻ không nhiều may mắn, sức khỏe rất yếu. Sự tận tụy, tình thương vô bờ của người mẹ, và cái nhìn lạc quan với cuộc đời ở cậu bé, đã giúp em vượt lên hoàn cảnh bản thân, để nhận ra rằng một suy nghĩ tích cực sẽ dẫn đến một hành động tích cực; một hành động tích cực sẽ dẫn đến một thói quen tích cực; một thói quen tích cực sẽ dẫn đến một cuộc đời tích cực.

Câu chuyện những chiếc quan tài chôn những người đã chết, hoặc bằng gỗ quý, hoặc bằng gỗ mối mọt, của một dân tộc ít người ở vùng sâu hẻo lánh miền Trung, chỉ vỏn vẹn 14 hộ, với 87 nhân khẩu, liệu có thể mang thông điệp gì về phẩm cách sống cho một cộng đồng lớn, cho những người còn sống chúng ta?

Và câu chuyện về hành động tích cực, sống tích cực của cậu bé yếu ớt thể lực, liệu có thể nói gì với những người lớn chúng ta, nhất là những quan chức có trách nhiệm trong Thời nhận lỗi, trước vận mệnh đất nước?

Khi mà Thời hoa đỏ, dẫu đáng kiêu hãnh, đang lùi xa vào quá khứ…

Kỳ Duyên

——

(*) http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/moi-hay-vat-doi-sao-doi