phiếm đàm: HỌC LÀM DÂN

HỌC LÀM DÂN

(báo điện tử vanvn.net của Hội Nhà văn VN đã đăng – TẠI ĐÂY – nay tác giả sửa thêm)

Trần Huy Thuận

 

Làm Quan phải đứng ra giải quyết bao nhiêu công việc, liên quan đến tầng tầng chế độ chính sách, mới phải học, chứ làm Dân thì nguyên cớ sao phải học? Ấy vậy mà phải học nghiêm chỉnh đấy!

HỌC LÀM DÂN khó, trước hết là học cách chịu đựng, cách nhịn nhục, vì đấy là tầng lớp có đẳng cấp thấp nhất trong xã hội – một tầng lớp bị cai trị chứ không cai trị ai; một tầng lớp chỉ biết chấp hànhđề đạt nguyện vọng, chứ không bao giờ được ra lệnh. Nguyện vọng cũng không mấy khi được đề đạt trực tiếp mà thường phải thông qua người đại diện (Đại biểu Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân). Thông qua “người đại diện” cũng không phải chuyện dễ, mặc dù người đó do chính họ lựa chọn bầu lên – bởi họ chỉ có thực quyền với “người đại diện” trong mỗi lần duy nhất là khi cầm lá phiếu bầu, bỏ vào thùng phiếu, còn sau đó, ngay cả chuyện muốn được dự các cuộc “tiếp xúc cử tri” của “người đại diện” ấy cũng đâu có dễ? Vậy cho nên thi thoảng lại có chuyện “Dân phải đội đơn” kêu cầu, đội đơn dâng lên chính người trước kia họ tin tưởng bỏ phiếu bầu làm đại diện quyền lợi cho mình!

LÀM DÂN khó, vì đấy là tầng lớp có thu nhập thấp nhất mặc dù là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, từ hạt thóc, củ khoai, mớ rau… đến những đồ dùng thường nhật và công cụ sản xuất trong mọi lĩnh vực – mặc dù Quan từng nói “Khổ trước Dân và sướng sau Dân”, nhưng thực tế chưa mấy khi Dân được “sướng trước Quan và khổ sau Quan” cả, kể cả trong mơ!

LÀM DÂN khó, vì Dân là gốc (Quan là ngọn?), mà đã là “gốc” thì, lao động âm thầm hút chất dinh dưỡng từ trong lòng đất lên nuôi ngọn, là hoạt động đặc trưng. Lao động không ngơi nghỉ, không bó hẹp trong 8 giờ một ngày, không phân biệt đêm hay ngày, ngày thường hay ngày chủ nhật… Thời gian của Dân quy ra lượng mồ hôi, quy ra lực cơ bắp, quy ra đồng tiền họ nhận được để nuôi sống gia đình. Với Quan thì bất cứ thời gian nào cũng là “vàng ngọc” – vàng ngọc theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen!

LÀM DÂN khó, vì Dân mà sống lươn lẹo, trác táng… thì sẽ bi chính cộng đồng dân xa lánh, hắt hủi – kể cả khi anh ta trác táng bằng gia sản nhà anh ta. Còn nếu dân làm việc phi pháp sẽ bị quan cho đi tù, thậm chí tước mạng sống. Ngược lại, Quan thì không. Quan  trác táng bằng “tiền chùa”, mà ít ai phê bình được Quan. Quan làm thất thoát công quỹ “tiền tấn”, nếu bị dân phanh phui, chỉ cần tuyên bố “rút kinh nghiệm sâu sắc” hoặc “nghiêm khắc kiểm điểm”, là xong… Dân ăn trộm một con chó, bị chính dân bao vậy đập chết. Quan tham ô bạc tỉ, chưa thấy quan nào phải treo cổ.

LÀM DÂN khó, vì Dân hay nhát mà Quan thường dốt. Dân nhát là bởi vị thế, Quan dốt là đặc thù (nhất là Quan cấp cơ sở). Nhát mà gặp dốt, thì khó hiểu nhau lắm. Trình bầy những việc đơn giản nhất mà do nhát, cứ lung túng như thợ vụng mất kim. Thế là Quan dốt, được thể làm oai. Càng làm oai càng thể hiện dốt.

Quan dốt vì nhiều nhẽ, chỉ xin đơn cử: Do không đỗ đại học, người con được cha chú chạy cho một chức quèn như bảo vệ, tạp vụ… Một thời gian sau cho đi học hàm thụ, thế là có bằng đại học, thạc sĩ. Thế là đưa vào quy hoạch, trở thành Quan lúc nào không biết.

Quan dốt còn vì nạn “mua chức” – Không dốt, ai phải mua? Tuy vậy không phải “quan mua” nào cũng dốt cả. Giỏi vẫn phải mua là do không thế lực – thế lực mạnh nhất lại là đồng tiền. Thế thì tội gì không đem tiền ra mà mua! Có thì bỏ ra (nôn ra), không có thì đi vay. Có chức rồi thì “thu” lại cũng nhanh lắm!

Dân đỗ đại học, chưa chạy được việc, vẫn là Dân. Đại học chính quy đương nhiên là giỏi hơn tại chức (“dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”). Vì dốt, nên tiếp cận với anh Dân quá biết lai lịch mình, Quan hay cáu lắm, hay cáu thì sinh ra thói hạch sách (dựa vào cường quyền). Dân bị hạch, sinh uất với Quan (nhưng nhát, không dám ra lời!). Dẫn đến Dân coi thường Quan (sau lưng!). Cuối cùng dẫn đến Dân và Quan xa nhau!

LÀM DÂN khó, nên con em Dân chỉ chăm chăm tìm cách thoát khỏi kiếp làm Dân để leo lên cuộc đời làm Quan – không hề có trường hợp ngược lai!

LÀM DÂN khó, nên có nhiều người sau khi leo được vào hàng ngũ quan lại, dù chỉ là chức quan thấp nhất, cũng muốn quên đi nhanh chóng quá khứ làm Dân của mình, ngại giao du với bạn bè thời “áo cộc” và học đòi rất nhanh thói sống hãnh tiến của tầng lớp trên!

LÀM DÂN khó, nên có thời các Quan cứ phải “ba cùng – cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với Dân. Tuyệt không có trường hợp ngược lại: Dân “ba cùng” với Quan – không cần ba cùng, người Dân nào cũng biết cuộc đời làm Quan “khổ” ra sao!

LÀM DÂN khó, trở lại làm Dân còn khó hơn. Khó đến mức nhiều Quan, nghỉ hưu lâu rồi, vẫn không sao hòa nhập được vào cuộc sống người Dân, không nói được tiếng nói của Dân, không nghĩ  được điều Dân suy nghĩ; không sống đúng cuộc sống của người đã nghỉ hưu, vẫn sống như kẻ mộng du trong cái thời đương chức đầy vàng son, vẫn sống xa hoa trong các “tháp ngà” cách bức với dân; vẫn hàng ngày mơ màng nhấm nháp cái vị vinh quang ngọt ngào của một thời đã qua. Và chính vì vậy mà có những vị, khi về tham gia các hoạt động xã hội với dân, như họp Tổ dân phố chẳng hạn, đã không được dân chấp nhận – tẩy chay, cứ ngồi vào hàng ghế nào, thì những người ngồi trước, lần lượt đứng lên, chuyển sang chỗ khác!

Nói thế không có ý phủ nhận thực trạng vẫn có những “Quan”, khi đang chức vì lý do này lý do khác, đã không thấy, không hiểu cuộc sống, suy nghĩ, nguyện vọng của Dân; nhưng khi về hưu tỉnh ngộ ra, nhận thức ra. Dẫn đến tình trạng, khi đang chức không nói, hoặc nói khác, nhưng khi về hưu lại nói hoặc nói hoàn toàn ngược lại. Sự thay đổi cách nói này không đáng trách, không nên trách1, trừ phi sự thay đổi đó không do thay đổi nhận thức, mà do lối sống cơ hội!

Nhưng, suy cho cùng, Dân cũng có cái sung sướng của Dân. Ví như về chuyện chơi bời, thăm viếng nhau, hoàn toàn tự do, muốn đi lúc nào thì đi, muốn tụ bạ lúc nào thì tụ bạ. Rượu vào rồi thì cái gan to bằng cái trống cái treo đình làng, ăn nói văng mạng… Quan thì không, bởi vì Quan vướng chuyện “bề trên trông xuống, người ta trông vào”!

Dân còn sung sướng ở chỗ suốt đời là Dân. Khi còn trẻ là Dân, về già vẫn là Dân, đến lúc chết vẫn là Dân. Hiện tại là Dân, quá khứ cũng là Dân. Cho nên không bao giờ phải dùng kèm chữ nguyên hay cựu đằng trước chữ Dân. Thế là cuộc đời luôn thảnh thơi. Điều ấy thì Quan không thể có!

Chả thế mà nhà thơ Nguyên Long đã phải thốt lên “vô tư mấy kiếp mới thành thường dân”!

Đấy mới chỉ là “mức phấn đấu” để thành “thường dân”, còn nếu để thành “phó thường dân”, liệu phải phấn đấu “vô tư” đến bao nhiêu kiếp, thưa nhà thơ Nguyên Long?!.

—————

1. Về vấn đề này, trong lần trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 09/7/2012, khi được hỏi: “So với thời kỳ ông tham gia lãnh đạo Chính phủ, dường như hiện nay ông đã có suy nghĩ thoáng hơn?” ông Vũ Khoan, nguyên phó thủ tướng đã nói: “Vạn vật biến động không ngừng. Thời điểm tôi làm trong Chính phủ chưa vấp phải lạm phát cao, sự phát triển kinh tế tuy ẩn chứa nhiều khiếm khuyết nhưng tương đối ổn định, nay tình hình có khác. Chúng ta đang chứng kiến nhiều sự đổi thay khách quan cả ở trong lẫn ngoài nước, nhận thức con người cũng không đứng yên, có thể trước kia chỉ nhận thức được đến đó thôi, nay nhận thức rõ thêm. Vả lại trước kia “làm quan”, dù muốn hay không người dân cũng khó bộc bạch hết nỗi lòng với mình nên không thể biết hết được.Khi về “làm dân”, có thể tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nên nghe được tiếng nói thật lòng. Có ba yếu tố khách quan như vậy chứ không phải khi về nghỉ rồi thì “đổi gió”, “đổi cờ” gì đâu” (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/500849/Lam-dan-moi-duoc-nghe-that-long.html).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: