Mời đọc mấy bài viết mới của chủ Blog, đã đăng báo, nay sửa thêm.

“Từ chức” còn là hành vi đạo đức nữa

CHỨC TƯỚC thực ra cũng chỉ là một NGHỀ trong cái nghề làm chính trị, kinh tế… Nhưng là cái nghề có “quyền thế”, có “lộc” – và từ đó có “lợi quyền”, có “thế lực”. Nên “chức tước” mang ba đặc điểm: làm con người ta bị mê hoặc nhiều nhất, muốn chiếm đoạt mạnh nhất và từ bỏ khó nhất. Muốn có thế lực, muốn thế lực ngày càng mạnh, thì phải có “lực lượng” – bè cánh. Cùng lực lượng thì cùng lợi ích, cùng lo bảo vệ cái lợi ích chung đó, sinh ra “nhóm lợi ích”.

Khó từ bỏ chức tước (từ chức) có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, như trên đã nói, do chức gắn với lợi quyền. Thứ hai, do sự ràng buộc vô hình của “nhóm lợi ích” – Đã cấu kết thành bè cánh, thành nhóm, thành “phe”, thì việc từ chức không còn phụ thuộc mình anh ta nữa. Thứ ba, do vị trí của anh trong “nhóm lợi ích”, nếu anh từ chức sẽ làm toàn nhóm rơi vào thế “mất chủ tướng”, mất chỗ dựa đầy thế lực, sẽ bị các nhóm lợi ích khác thanh toán hoặc pháp luật trừng trị thẳng tay. Thứ tư, nếu chức tước do “mua” mà có, thì càng khó từ bỏ bởi còn cần thời gian để “thu hồi vốn” và kiếm lời! Và, thật buồn khi phải nói thêm lý do thứ năm này: Thực tế cho thấy, điều khiến người có chức không từ chức còn vì… người đó không nhận ra, không nhận thức được trình độ mình YẾU KÉM – kể cả RẤT YẾU KÉM, nên cứ VÔ TƯ YÊN VỊ trên cái GHẾ mà ông ta được ngồi, đang ngồi!.. Cho nên phải nói thêm: Muốn TỪ CHỨC, người có chức còn phải có TRÍ THỨC, phải THÔNG MINH chứ không thể như con vịt, suốt ngày “cạc cạc”.

 ***

 Lâu nay khi nói đến vấn đề TỪ CHỨC, hay dùng cụm từ “VĂN HÓA TỪ CHỨC”. Tiến sỹ Nguyễn Sĩ Dũng (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) trong một bài trao đổi với vnexpress[1] thì nói cụ thể hơn: “Từ chức là chuyện văn hóa hơn là chuyện pháp lý, chế tài ở đây chính là lương tri. Và ông nói thêm “Nếu có một văn hoá chính trị dựa trên lương tri thì việc từ chức khi không hoàn thành nhiệm vụ là điều gần như bắt buộc”.

Nghe giải thích vậy, tưởng ổn mà hóa chưa ổn.

Trước tiên, cần nhắc lại ba điều đơn giản ai cũng biết này:

Thứ nhất, “CHỨC TƯỚC” dù ở cấp bậc nào, suy cho cùng đều do DÂN trực tiếp hay gián tiếp tạo ra, dựng nên. CHỨC to đến mấy cũng do DÂN và từ DÂN mà ra hết. Không có DÂN thì xưng tước với ai? Ra lệnh cho ai? Hò hét với ai? Lên mặt với ai và… TỪ CHỨC với ai?!.

Thứ hai, mọi CHỨC TƯỚC đều xuất phát từ NHU CẦU CUỘC SỐNG CỦA DÂN, CỦA NƯỚC chứ không phải vì bản thân người có chức. Khi hết “nhu cầu” hay khi không đáp ứng được nhu cầu, thì THÔI CHỨC, TỪ CHỨC là việc đương nhiên, là chuyện thường tình; thậm chí là TRÁCH NHIỆM và NGHĨA VỤ của người có chức nữa. Thật vậy, một ông giám đốc không biết làm việc hoặc làm việc quá yếu kém dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thua lỗ triền miên, không chịu từ chức, sẽ dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp, cho người lao động… Một quan đầu tỉnh kém cỏi, làm cả tỉnh thụt hậu, đời sống nhân dân khốn khó… Vậy mà không chịu từ chức, nhất định khư khư ôm chặt lấy cái ghế (cứ nhầm là ghế “của mình”!), thì đó là kẻ không chỉ vô văn hóa, mà còn thực sự vô trách nhiệm nữa. Phải biết XẤU HỔ khi doanh nghiệp “mình”, địa phương “mình”, ngành “mình”… thua kém doanh nghiệp “bạn”, địa phương “bạn”, ngành “bạn” mới là kẻ có TRÁCH NHIỆM, có lương tri, có văn hóa… Mà với kẻ đã vô trách nhiệm thì việc đem cái từ mĩ miều “văn hóa” ra dọa, sẽ là chuyện nực cười!

Thứ ba, Khi chức tước bị lợi dụng, lạm dụng, lộng quyền… trở thành trở lựccho cuộc sống xã hội, thì TỪ CHỨC không còn ý nghĩa nữa, bởi không đời nào những kẻ đã tha hóa (mất đạo đức) đến mức ấy lại có “thiện chí” tự nguyện từ bỏ chức tước anh ta đang nắm giữ. Lúc ấy phải dùng đến biện pháp mạnh: CÁCH CHỨC.

Vậy thì việc TỪ CHỨC đâu chỉ là chuyện “có văn hóa hay không có văn hóa”, là “có lương tri hay không có lương tri” mà còn phải được coi là HÀNH VI ĐẠO ĐỨC nữa. Những kẻ LẠM QUYỀN, TIẾM QUYỀN đều phải được gọi đích danh là bọn “thất đức”.

Mới đây thôi, một người Nhật – ông Ryu Matsumoto, Bộ trưởng Bộ Tái thiết , chỉ do LỠ LỜI với DÂN, mà phải “nghẹn ngào cất lời xin lỗi về những phát biểu của ông có thể làm tổn thương tình cảm của các nạn nhân thảm họa “. Đó rõ ràng là hành vi vừa mang tính VĂN HÓA, vừa là LƯƠNG TRI và cũng vừa là ĐẠO ĐỨC của một quan chức do dân, của dân, vì dân chứ?!. Thật buồn khi kiểm lại, từ sau vụ ngài Bộ trưởng Lê Huy Ngọ TỪ CHỨC (do lỗi của cấp dưới), đến nay, trước tình hình xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục… có khá nhiều chuyện bê bối… nhưng chưa hề thấy thêm một GƯƠNG TỪ CHỨC NÀO. Thực ra thì cũng đã có đấy, đó là trường hợp một vị vốn đảm nhiệm nhiều chức, nhưng khi cơ sở mà ông trực tiếp phụ trách gặp chuyện bê bối, thì ông từ chức – cái chức đang có chuyện bê bối mà chuyện bê bối lại chính là “tác phẩm” của ông. Còn cái chức chung chung khác, to hơn, nhiều lợi quyền hơn, thì không, không đời nào từ bỏ!.. Trong trường hợp ấy, đâu chỉ còn là vấn đề VĂN HÓA? Là ĐẠO ĐỨC hẳn hoi đấy chứ?!.

Các nước khi một người được bầu vào chức vị nào đó, thường trước khi đảm nhận thực sự, phải qua một bước thủ tục quan trọng: TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC. Thiết nghĩ đã đến lúc

Quốc Hội chúng ta cũng phải đưa cái chuyện TUYÊN THỆ này vào quy chế bầu cử. Và trong nội dung các lời tuyên thệ ấy, tối thiểu cũng nên có điều: “Nếu tôi không hoàn thành chức trách được giao, tôi sẽ xin từ chức”. Đồng thời Quốc Hội cần phải giải thích cho người đó hiểu rằng, nếu đã không hoàn thành chức trách được giao mà ngoan cố không từ chức, là vi phạm ĐẠO ĐỨC CÔNG DÂN và lúc ấy, Quốc Hội buộc phải thực thi cái QUYỀN LỰC TỐI CAO của NHÂN DÂN, là CÁCH CHỨC ông ta.

—————

[1] http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2006/04/3b9e8323/

***

NGU, BIẾT NGU.

NGU, KHÔNG BIẾT NGU!

  Con người ta sinh ra, có kẻ thông minh, có kẻ ngu tối. Có trẻ sinh ra đã bộc lộ tư chất thông minh, có trẻ vừa “chào đời”, sự đần độn đã hiện ngay ra nét mặt. Trẻ thông minh, lớn lên chưa chắc đã duy trì được như vậy và ngược lại. Một nhà bác học nói: “Thông mình 99% là do nỗ lực học tâp, chỉ có 1% là nhờ bẩm sinh” – câu nói có vẻ thiên về động viên và khiêm tốn hơn là thực tế. Thông minh hay ngu tối có thể do bẩm sinh, có thể do không chịu học. Thông minh do bẩm sinh nhưng không được bồi bổ liên tục bằng sự học, thì sự thông minh sẽ dần bị hạn chế. Ngu tối do ít học, có thể được cải thiện bằng sự nỗ lực vượt bực trong học tập. Ngu tối do bẩm sinh thì thường khó thay đổi. Khôn ngoan là biểu hiện của thông minh (W. Goethe nói: Trí thông minh làm cho ta thấy mình khôn ngoan hơn). Người thông minh thường nhận ra “Càng học càng thấy dốt”. Bởi khôn ngoan là thấy được sự giới hạn của bản thân mình – đó chính là sự khiêm nhường. Vậy có thể nói, người sống khiêm nhường chính là người thông minh. Kẻ dốt nát, biết một đã tưởng hiểu mười! Người khôn ngoan là người biết sống để mọi người nể phục, kẻ ngu dại toàn thích làm những điều gây sự khó chịu cho người khác (Ca dao xưa có câu: “Khôn cho người ta dái (kính nể), dại cho người ta thương, dở dở ương ương cho người ta ghét”). Người thông minh mà khiêm tốn, thì sự thông minh của người ấy càng nhân lên, càng phát huy, càng tập hợp được nhiều người thông thái bên mình. Người tự phụ, tự cao, tự đại, vỗ ngực,… chính là người không thông minh và từ đó chỉ có thể lôi kéo về quanh mình những kẻ “cùng hội cùng thuyền” với mình (“Gần người ngu thì dại/ Gần kẻ nịnh hót thì a dua/Gần đứa tham lam thì trộm cắp” – Mạnh Tử). Sống hoặc làm việc với người thông minh thường dễ chịu và dễ thay đổi được chỉ số IQ theo hướng tăng lên (Mạnh Tử nói: “Gần người hiền thì sáng, gần người tài thì thông”). Ngược lại, gần người ngu tối thường dẫn đến bực mình, đần độn theo: Rồng vàng tắm nước ao tù/ Người khôn ở với người ngu bực mình. Hoặc là: Trăm năm ở với người đần/ Không bằng một lúc ở gần người khôn. Lại nữa: Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng dại. Câu nói: “ngu si hưởng thái bình” chỉ nói lên điều không ai muốn “chấp”, muốn “dây” với kẻ ngu! Để khen một ai đó thông minh, chúng ta chỉ có mấy chữ như “thông minh”, “tháo vát”, “giỏi giang”, “tài ba”, “lỗi lạc”, “năng động”, “xuất chúng”,… Để chê một người ngu tối thì xem ra có rất nhiều hình dung từ: “tối dạ”, “ngu như lợn”, “ngu như bò”, “ngu như chó”, “ngu hết chỗ ngu”, “ngu hết phần ngu của người khác”, “ngô nghê như bò đội nón”, “đồ đần độn”, “dốt đặc cán mai”… Kẻ ngu tối tự biết mình ngu, là cái phúc cho cộng đồng. Nhưng kẻ ngu tối không biết mình ngu, cứ “vô tư ngu” mới thực sự là nguồn thảm họa đối với tất cả những người sống trong vòng ảnh hưởng của sự ngu tối đó của anh ta – Chính đây mới là loại người nguy hiểm đối với xã hội. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không hiếm gặp kẻ ngu không những không nhận ra mình ngu, trái lại còn vỗ ngực cho mình là kẻ thông minh. Thật đau lòng, nếu kẻ đó lại nắm giữ một chức quyền nào đó trong xã hội, lại thường xuyên đi rao giảng “điều hay, lẽ phải”, lại thích đóng vai “mẫu nghi”… của thiên hạ! Do vị thế quyền lực, loại người này thường không nhận được sự đánh giá trung thực của cấp dưới về “chỉ số IQ” của mình, ngược lại, anh ta thường xuyên được bọn xu nịnh vây bọc tán dương lên tận mây xanh, nên đã ngu, càng ngu.

 

*****

KHẨU HIỆU… KHÔNG CHỈ ĐỂ HÔ!

KHẨU HIỆU, nguồn gốc của nó là “khẩu lệnh”, là câu nói ngắn gọn để quân lính dùng trong chiến trận nhằm phân biệt “địch”, “ta”. Thời nay, khẩu hiệu đã mang một nghĩa khác. Gốc của nó là “KHẨU” – cái miệng, nên trước sau gì nó vẫn là một câu nói. Một câu nói mang tính HIỆU LỆNH, nên phải cô động, ngắn gọn – để một người có thể hô to lên được và để ngàn, triệu người có thể hô theo. “DÂN CÀY CÓ RUỘNG” là khẩu hiệu đầu tiên của Cách mạng vô sản. Chính khẩu hiệu này đã vực dậy cả một dân tộc, một dân tộc đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!” – như câu thơ Nguyễn Đình Thi. Tương tự như vậy, “ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC” cũng là khẩu hiệu đầu tiên gắn với Nhà nước cách mạng – Nhà nước “của Dân”, “do Dân”, “vì Dân”. Một số nước khác cũng có khẩu hiệu, như: “Einigkeit und Recht und Freiheit” (“Đoàn kết – Công lý – Tự Do”)  – Cộng hòa Liên bang Đức. Như : “Liberté, Egalité, Fraternité” (“Tự Do – Bình Đẳng – Bác Ái”) – Cộng hòa Pháp. Như: “Пролетарии всех стран, соединяйтесь!” (“Vô sản quốc tế, đoàn kết lại!”) – Liên bang Xô Viết. Khẩu hiệu còn gắn với tên của một tổ chức, một cơ quan… để nói rõ bản chất cũng như mục đích và nhiệm vụ của tổ chức hoặc cơ quan đó. Như “Nhà hát Nhân dân”, “Quân đội Nhân dân”, “Công an Nhân dân”, “Tòa án Nhân dân”,.. là những cơ quan hay tổ chức của Nhân dân, vì Nhân dân. Đã “của Dân, vì Dân” thì không thể chống lại lợi ích của Dân. Giá trị của khẩu hiệu không nằm ở sự khéo dùng mỹ tự hay chơi chữ. “Khẩu hiệu” phải hình thành từ cuộc sống, vì cuộc sống, đúng lòng Dân. Sức sống của khẩu hiệu nằm ở mục tiêu “phục vụ” cuộc sống, ở khả năng thúc đẩy cuộc sống phát triển, ở sức thuyết phục quảng đại quần chúng. Không dùng khẩu hiệu để mị Dân, lòe Dân hoặc đi ngược lợi ích chính đáng của Dân. “Khẩu hiệu” là mục tiêu cho hành động, mục đích của hành động. Gắn khẩu hiệu với tên nước, tên tổ chức, tên cơ quan chính là nêu lên mục đích, mục tiêu mà Nhà nước, tổ chức hay cơ quan đó muốn vươn tới. Nếu không, khẩu hiệu sẽ chỉ là khẩu hiệu, sẽ thành rỗng tuyếch. Khẩu hiệu thường có tính thời đại và tồn tại theo thời gian. Bên cạnh những khẩu hiệu mang tính nhất thời như “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”, luôn tồn tại những khẩu hiệu có giá trị vĩnh cửu như “Độc lập, Tự do, Dân chủ, Bình đẳng, Bác ái”… Khẩu hiệu thiết thực nhất, quan thiết nhất, có lẽ luôn luôn là “NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM”! Khẩu hiệu gắn với cái mồm, nên dễ thành “nói suông”, “nói một đàng làm một nẻo”, dẫn đến “người nói cứ nói, người nghe không tin”, dẫn đến bệnh “nói theo, ăn leo”, nói mà chả hiểu mình nói gì, nói “thao thao bất tuyệt”, nói để “lấy lòng”, “được lòng” và nói để trốn làm – “mồm miệng đỡ chân tay”! Thực tiễn cuộc sống đã có nhiều khẩu hiệu như thế hoặc gần như thế. Từ bốn năm chục năm trước, chúng ta đã nêu những khẩu hiệu như Cán bộ “là công bộc của dân”, là người “khổ trước dân, sướng sau dân”… nhưng đến nay ai là công bộc, ai khổ ai sướng, thảy đều đã rõ! Tương tự như vậy, “điện lực đi trước một bước” là loại khẩu hiệu được đề ra từ cuối những năm năm mươi thế kỷ trước, vậy mà đến nay chúng ta vẫn thường xuyên lo thiếu điện. “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cũng được nói đến từ khá lâu, nhưng với nông thôn, nông dân vẫn là hình ảnh muôn thuở “con trâu đi trước, cái cày theo sau” (báo đưa tin “Ngày 7 Tết Nhâm thin, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dự Lễ hội xuống đồng năm mới và cùng tham gia mở đường cày đầu tiên tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” với bức ảnh ngài đang cầm cày đi sau con trâu. Tôi nhìn bức ảnh và tự hỏi: Tại sao ban tổ chức lễ hội tịch điền không thay con trâu bằng chiếc máy cày? Đơn thuần muốn “phục dựng hình ảnh Đức Vua xưa” hay còn muốn phản ánh thực tại?). Khẩu hiệu cho dù là khẩu hiệu hoan nghênh hay khẩu hiệu đả phá, đều luôn gắn với ý thức, bắt nguồn từ ý thức, bắt nguồn từ sự thấu hiểu, từ sự giác ngộ, từ sự tự nguyện, từ lòng nhiệt huyết – Từ khối óc đến trái tim đến tấm lòng. Để “một người hô, vạn triệu người ứng”. Để không có tình trạng: Kẻ “hô” chưa hẳn đã hô, người “ứng” chắc đâu đã ứng! Khẩu hiệu rất cần cho cuộc sống cộng đồng. Vâng! Nhưng KHẨU HIỆU KHÔNG CHỈ ĐỂ HÔ. KHÔNG DỪNG LẠI Ở VIỆC HÔ!

*****

SỢ LÀ THUỘC TÍNH CỦA CON NGƯỜI!

SỢ là thuộc tính của con người, bất kể kẻ sang người hèn. Lê Quý Đôn nói: “ Phải biết sợ mới nên người”. Bé thì sợ chó, sợ chuột, sợ thạch sùng, sợ rắn cắn, sợ người lạ, sợ “mẹ mìn” bắt cóc, sợ ma cà rồng, sợ ông “ba bị chín quai”… Lớn một chút thì sợ bị la mắng, sợ bị đòn, sợ bị phạt không cho ăn. Đến tuổi đi học sợ muộn giờ, sợ không hiểu bài, sợ điểm kém, sợ thầy giáo phạt, sợ không được lên lớp. Lớn thêm chút nữa thì sợ ế chồng, ế vợ, sợ thua anh kém em, sợ không bằng chúng bằng bạn. Đi làm, sợ mất việc, sợ không được lên lương, sợ không được lòng sếp, rồi còn có cả một kiểu sợ lạ nữa, là “Sợ bóng, sợ gió”… Tóm lại là có rất nhiều thứ buộc ta phải… sợ. Sợ cái hữu hình và sợ cả cái vô hình nữa!             Cái sợ của trẻ con chủ yếu là sợ vu vơ, lặt vặt: Do không hiểu mà sợ – sợ ma! Do chưa thấy bao giờ hoặc ít thấy, hoặc thấy hình dạng nó kì quái, bẩn thỉu quá, mà sợ – sợ gián, sợ chuột, sợ thạch sùng! Do đau thể xác mà sợ – sợ rắn, sợ rết, sợ đòn roi của người lớn!.. Còn cái sợ của người lớn thì khác. Đó là cái sợ thấy được, trực tiếp và cụ thể; sợ cả về thể xác lẫn tinh thần, trong đó cái sợ tinh thần chiếm tỉ lệ rất cao. Có cái sợ tránh được, như không bao giờ làm việc xấu, không vướng vào những vụ vi phạm pháp luật,.. thì chả việc gì phải sợ (ấy là theo lẽ thông thường, chứ một khi … Thôi chả nói nữa, sợ lắm!). Nhưng có cái sợ không tránh được, như bị cướp, bị bắt cóc, bị khủng bố, bị tống tiền, bị doạ cho thôi việc, bị thuyên chuyển công tác, bị sếp ghét bỏ,… Không may gặp những chuyện như      thế mà không sợ, thì ai đó phải có thần kinh …thép! Làm điều sai trái, sợ pháp luật, là cái sợ bình thường. Ra đường sợ kẻ cắp, là cái sợ tuy không bình thường nhưng còn chấp nhận được. Chứ “ra đường sợ công an” (trong khi người ta vẫn nói: “Công an là bạn dân”), “lên phường sợ… thủ tục”  (phường là cấp chính quyền thấp nhất, mà chính quyền là “của dân, do dân, vì dân”), thì đấy lại là cái sợ hoàn toàn không bình thường chút nào. Càng không bình thường hơn khi nghe và chứng kiến những cảnh đại loại như thế này: “người ngay sợ kẻ gian”, “người quân tử sợ kẻ tiểu nhân”, “công an sợ đầu gấu”, “dân lành sợ quan tham”,… Con người càng trưởng thành càng có nhiều điều để sợ. Già sắp chết, vẫn sợ! Không chỉ là sợ chết mà còn sợ chết rồi, vẫn để lại hệ lụy cho con, cho cháu. Các cụ ta xưa có câu: “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ bần cùng khố dây“. Sợ kẻ anh hùng là nể sợ, là bái phục đạo cao đức trọng của người ấy. Còn sợ kẻ bần cùng khố dây là sợ cái sự liều lính bất chấp lẽ phải trái, đạo lý, kỉ cương, luật pháp… của kẻ đã ở thế đường cùng, đã mất hết lý trí. Cánh đàn ông lại có kiểu sợ đặc thù này: sợ vợ! Đến vua chúa oai thế, còn sợ hoàng hậu, nữa là dân thường! Những khi túm năm tụm ba tán gẫu với bè bạn tôi thường nói thế, để thanh minh cho cái tính nhút nhát sợ… bà xã của tôi! Tôi là kẻ học ít, nhưng cũng sính dùng chữ lắm, ví dụ, không nói “sợ vợ”, nói thế nó thô thiển quá, mất giá quá, nên tôi thay bằng câu: “dàn thiên lý nhà mình sắp đổ!“. thế là mọi người hiểu ý ngay: Thôi tha cho nó về, kéo vợ nó lại cho nó… lãnh đủ! Giới trí thức gần đây có nhiều người viết hồi ký tự nhận mình “hèn” – hèn tức là sợ đấy, có sợ mới phải hèn chứ? Vậy là ngay những kẻ vốn có trí tuệ hơn người cũng… sợ, thế thì trách gì cái loại “dân ngu khu đen” mình? Sợ cũng có tính thời gian. Có cái chỉ sợ ban đêm, có cái lại sợ ban ngày – “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Lại có cái sợ cả ngày lẫn đêm: Sợ vợ, sợ “bồ nhí”, sợ cả sếp lẫn vợ sếp,.. Sợ có nhiều cách biểu hiện lắm: sợ run cầm cập, sợ hết hồn hết vía, sợ tái xanh tái xám, sợ lạnh cả xương sống, sợ dựng tóc gáy, sợ toát mồ hôi, sợ rụt vòi, sợ vãi đái, sợ vãi linh hồn… Lại có cả sợ bóng sợ vía nữa (là do người đó đã từng sợ, nay chỉ thoáng nghe đến, nghĩ đến, nhắc đến, là “hồn bay phách lạc” rồi – như con chim sau lần thoát chết bởi cung tên của người đi săn, trông thấy cành cây cong cũng sợ!). Chẳng biết những kẻ to gan lớn mật có thật không biết sợ không? Mật và gan thế nào là to? To quá dễ sinh bệnh, dễ “ngoẻo” sớm – thế thì thà sợ mà được sống thọ thêm một chút, còn hơn! Hèn – Vâng, hèn chính là do sợ quá gây ra. Tôi hay bị bạn bè mắng lắm, mắng là  ĐỒ HÈN! Nghe thì tức, nhưng vốn nhiễm tính sợ từ bé, nên không dám cãi, không dám sống khác đi, nên phải cười xoà: Ừ tao hèn, chúng mày không hèn, chúng mày to gan lớn mật, chúng mày gan cóc tía, chúng mày dũng cảm, chúng mày anh hùng!.. Bị dồn một hồi như thế, nhiều đứa chót mắng tôi hèn, bỗng thấy chờn chợn, không khéo thằng này nó khùng! Mà chạm vào ai chứ chạm vào thằng khùng thì có ngày… vạ vào thân! Thế là đến lượt chúng… sợ, lại là sợ cái thằng hèn này mới… đau chứ!              Sợ do việc làm của mình mà bản thân bị hành tội đã đành, còn sợ vì hành vi của mình mà con cháu, người thân bị hành tội theo nữa kia. Cái sợ đó hình như chỉ có ở mấy nước chậm tiến Á Đông? Nó là hệ quả của cái luật man rợ: “tru di tam tộc”! Có tội sợ đã đành, không làm gì nên tội vẫn sợ. Ấy là sợ bị vu khống, sợ bị mắc bẫy kẻ xấu, sợ bị lừa vào tròng và sợ người thi hành pháp luật hiểu sai hoặc cố ý hiểu sai luật pháp… Chưa hết! Còn một thứ sợ nữa… Là cái sợ của kẻ có quyền chức. Sẽ có người hỏi: Đã có quyền chức, chắc chỉ sợ người có quyền chức cao hơn? Đúng, nhưng chưa đủ. Bởi thứ nhất, cái sợ đó không đáng sợ, đơn giản là tiền sẽ giúp loại bỏ rất nhanh nỗi sợ đó – “Tiền che tội lỗi, tiền vây chức quyền” mà! Thứ hai, sợ này chỉ mang tính thời gian, bởi sếp quyền chức cao hơn thường sẽ nghỉ hưu trước. Lại có người hỏi: Thế thì chắc chỉ còn sợ… cử tri và quần chúng bỏ phiếu tín nhiệm? Xin thưa, cái đó có, nhưng đối tượng này thường hữu danh, nhưng hiếm khi hữu thực lắm! Vậy cuối cùng kẻ có quyền chức sợ cái gì? – Sợ… chính cái quyền chức của anh ta, chứ còn sợ gì nữa! Khi có quyền chức, người ta luôn sợ mất chức, sợ xuống chức, sợ bị đồng nghiệp tranh chức,.. Không tin à? Cứ thử phấn đấu để có quyền chức, mà xem!.. Vậy đó! Sợ – tưởng  chỉ là biểu hiện của những thằng hèn, hoá ra không loại trừ ai cả?!.  

*****

LỘC và QUAN THAM

Lộc là danh từ, có ba nghĩa. Nghĩa thứ nhất là chồi non của cây. Giờ giao thừa bước sang năm mới, dân ta có phong tục đi hái một ít chồi non – gọi là “hái lộc”, rồi mang về bầy ở nhà trong mấy ngày Tết, với hy vọng, năm mới sẽ có nhiều LỘC  – cái chồi non của cây trở thành biểu tượng của tiền của, thứ mà ai ai cũng khao khát, ai ai cũng vất vả lao động ngày đêm để kiếm được nó! Không có cái nghĩa này, chả mấy ai quan tâm đến cái chồi cây non nớt ấy. Nghĩa thứ hai là “bổng” của các vị quan chức – gọi là “bổng lộc”. Loại “lộc” này lớn, nhỏ tùy thuộc vào chức tước, gọi là “lộc tước”. Thông thường, chức tước càng cao, lộc càng lớn (Lương cao lộc hậu). Lộc này được cân đong bằng tiền, vàng, bằng xe hơi, bằng máy bay và bằng những dinh cơ sang trọng xây dựng nơi đắc địa, nơi tấc đất có giá hàng chục, hàng trăm tấc vàng… Nghĩa thứ ba của LỘC là “vật chất có giá trị do đấng linh thiêng ban cho” – Lộc Trời! Đấy là nội dung tâm linh của danh từ lộc. Xưa nay, LỘC hầu như không bỗng dưng mà đến với ta. Muốn được LỘC, con người cần phải cầu xin. Cầu xin ai? – Đương nhiên là cầu xin BỀ TRÊN và THÁNH THẦN rồi. – Không thế, chẳng nhẽ lại đi cầu xin mấy ông bà nông dân, công nhân (là “chủ nhân ông đất nước” thật đấy, nhưng lấy đâu ra của mà phát lộc)?!. Bề trên thường ban lộc bằng chức bằng tước chứ ít khi bằng tiền của – Ban chức ban tước tức ban bổng, ban lộc rồi! Thánh Thần ban lộc bằng việc cho tín chủ “buôn một bán mười”, bằng cho “con nhang” được “nhất bản vạn lợi” và bằng cả việc cho “đệ tử” luôn “thăng quan tiến chức” nữa! Lòng tham con người vốn vô hạn, “chin đụn, muốn đụn nữa là mười”. Cho nên Thánh Thần cũng rất chiều lòng. Chả thế mà các đình chùa ngày càng có nhiều người đến cầu xin, càng kẻ giầu sang càng hay cầu xin (xưa, các cụ nói rồi: “phú quý sinh lễ nghĩa”),.. Không tin, vào dịp Lễ, Tết quý vị cứ thử đến chùa, đền, đặc biệt là đến những nơi được đồn đại là linh thiêng, mà xem. Chắc chắn sẽ thấy số người có của, có chức đông hơn nhiều lần dân thường. Có nơi ban tổ chức “lễ hội” còn phát phù hiệu mầu đỏ, mầu vàng phân biệt theo chức sắc, mầu nào được vào thâm cung, mầu nào chỉ ở ven ngoài, còn dân thường, đợi đấy!.. Dân “khố rách áo ôm” không có tiền xắm lễ cầu xin Thần Thánh, đành lê la ngoài cổng, cầu xin người đi lễ rủ lòng thương vậy. Mà ai chứ các phu nhân, trong những hoàn cảnh như thế, thường hay thích làm việc thiện, thích thể hiện mình là người nhân đức lắm! Cho nên, tại các nơi Lễ hội, thường xuất hiện khá nhiều dân “cái bang” – điều này chứng tỏ họ cũng rất hiểu tâm lý các bậc phu nhân, phải không? Đã nói đến chuyện cầu xin, lại là xin lộc, thì “lễ” phải lớn. Lễ lớn thì lộc lớn, kinh nghiệm thế. Lễ với bề trên cũng vậy, lễ với Thánh Thần càng vậy (thì vẫn chả nghe nói “trần sao âm vậy” sao?). Trên trần thì dùng “tiền thật, thóc tươi”, ngoại tệ mạnh càng tốt. Cõi âm thì dùng vàng mã, tiền âm phủ. Tại dinh thự bề trên dịp Lễ, Tết, xe con đủ chủng loại vào ra tấp nập. Phong bì phong bao rút ra chen lẫn tiếng cười nói rôm rả từ sáng tới khuya. Tại các đền chùa thì lò hóa vàng mã lúc nào cũng rừng rực lửa. Con nhang đệ tử chen vai thích cánh khấn vái xì xụp. Vài chục năm gần đây, người ta còn “phát minh” ra cách mới, không phải chỉ “xin” mà còn “vay” lộc nữa (vay của thánh thần thì có lẽ chỉ người Việt mình dám làm thế, chứ chắc chả nước nào trên thế gian này cả gan như vậy? – “của Chùa mất một đền mười” mà. Nhưng người Việt ta cũng biết trọng chữ “tín” lắm, năm trước vay, năm sau làm ăn khấm khá, lại lên “lễ tạ” và “trả nợ”. Rồi lại xin vay tiếp! Có người sợ không có trả, thi không vay mà chỉ khấn xin “nhặt nhạnh chút đồng rơi đồng vãi” của Thánh Thần (đôi khi không phải chỉ vì lo không có trả, mà còn là… tiếc không muốn trả, nên nói tránh đi thế!). Xin Thánh Thần thì có thể đàng hoàng, công khai (kể cả công khai nhờ thầy cúng làm sớ cầu khấn hộ). Nhưng xin bề trên thì không. Phải “tế nhị”, phải qua “trung gian”, phải “đi cửa sau”, phải cậy nhờ “phu nhân” (khi bề trên là nam) hoặc “phu quân” (nếu bề trên là nữ). Lại còn phải biết lựa “thời điểm”, không thể bạ lúc nào cũng… xin. Dịp Lễ Tết mà làm việc đó là thuận lợi và hợp thời nhất, lại dễ đạt nguyện vọng nhất. Ngoài ra, cũng có thể chọn những dịp gia đình bề trên có những sự kiện hệ trọng như có việc hiếu, việc hỷ hoặc có người đau yếu… (mà đôi khi chính một số bề trên cũng biết cách tạo “điều kiện” giúp kẻ dưới có dịp bầy tỏ, đồng thời giúp bề trên kiểm tra lòng trung thành cũng như sự biết ơn của kẻ dưới!). Đã có những “nguyên mẫu” dùng kế mượn cái chết của… bố nuôi (cái sự “nuôi” này cũng là mượn!). Lại có “nguyên mẫu” khi sắp về hưu, liền dùng kế cho phu nhân đóng vai ốm, nằm bệnh viện như thật, thậm chí còn thân chinh đặt phu nhân lên xe lăn và tự tay mình đẩy chiếc xe đó nữa – một màn kịch rất hoàn hảo, không thể chê vào đâu được! Để làm gì? Thưa, để làm chuyến “tầu vét” của biếu của thiên hạ! Cao thủ chửa?!. Phải chăng xuất phát từ thực tế này, mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải cảnh báo (Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 – sáng 27/2): “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lãng phí; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; lối sống xa hoa, hưởng lạc…” LỘC là thứ “bất khả tận hưởng”. Kinh nghiệm nhiều đời chỉ bảo thế. Nhờ thế mà có chuyện các phu nhân hay làm từ thiện và cũng nhờ thế các cháu con nhà nghèo khó, đôi khi cũng được “mở mày mở mặt” nhờ nhận được ít “đồng rơi đồng vãi” đó. Đánh vào tâm lý khát khao cầu tài cầu lộc ấy của một “bộ phận không nhỏ” chúng dân, một số đình chùa còn “sáng tác” ra nhiều thứ “lễ hội” mới. Chỉ căn cứ vào con số thống kê của Cục Văn hóa thông tin cơ sở, Bộ Văn hóa Thông tin vừa công bố, mỗi năm nước ta có tới 8.902 lễ hội – ấy là thống kê năm 2004, chứ nay chắc còn phải nhiều hơn nữa (http://vietbao.vn/Van-hoa/Viet-Nam-co-8902-le-hoi-trong-mot-nam/70004243/181/). Có những “lễ hội ăn khách”, địa phương này làm, địa phương khác cũng bắt chước làm theo, mặc dù xưa nay không hề có lễ hội đó (“máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”) – Đó là sự tham dẫn đến trò lừa bịp. Chưa hết. Ăn theo lễ hội còn là nạn trộm cắp, cướp giật; nạn  “chặt chém”, “móc túi” khách thập phương một cách tàn bạo, bằng những “dịch vụ” như ăn uống, nghỉ trọ, trông coi xe… – Cái này chính là sự tham gắn với cái ác! Kẻ cùng đinh ác và người giầu sang cũng ác. Càng muốn mau thỏa mãn lòng tham, càng phải tàn ác! LỘC tồn tại thất thường. Với người này thì hưởng cả đời, với kẻ kia lại chỉ được có một thời gian ngắn thì… “hết lộc”. Người ta bảo đó là do “hồng phúc” nhà ấy quyết định. Người hiền lành có lộc, thì lý giải là nhờ “tu nhân tích đức”. Kẻ sống thất đức mà vẫn có lộc, thì bảo nhờ kiếp trước sống nhân từ, nên kiếp này hưởng! Căn cứ vào những lý giải ấy, có thể suy ra: Vậy thì những kẻ hiện thời sống thất đức, lợi dụng quyền chức vơ vét hết lộc của dân, thì kiếp sau họ sẽ phải “trả”, trả rất đắt, đúng không? Nếu điều đó đúng thì sao nhỉ? Thì lộc lớn đến mấy, lộc cũng hết!

*****

NÓI LẤY ĐƯỢC

Khổng Tử nói: “Biết, nói biết; không biết, nói không biết – ấy là biết”. Lão Tử thì cực đoan hơn: “Biết, nói không biết, ấy là biết”. Vậy mà trong đời sống thực tế, vẫn có kẻ biết rất ít, thậm chí chẳng biết gì, nhưng lại rất thích… nói! Dân gian gọi họ là bọn NÓI BỪA (NÓI ẨU), NÓI LẤY ĐƯỢC. “Nói bừa”, “nói ẩu” và “nói lấy được” là nói như thế nào? Không biết gì mà cứ nói như người hiểu biết, biết rất lơ mơ cũng nói như người thông thạo lắm, thấy ai nói bất cứ chuyện gì về bất cứ đề tài nào cũng nhảy vào tham gia, tán như thánh! Đấy là một dạng người nói bừa, nói ẩu phổ biến. Nhưng phần lớn loại này chỉ là kẻ thích huyênh hoang, khoe mẽ hoặc hợm hĩnh – chỉ làm ta buồn cười, chứ không tổn hại gì cho người khác, cho xã hội. Đáng ngại là loại người biết rõ điều mình nói là không đúng (hoặc ít ra là không đúng trong thời điểm ấy), vẫn vô tư nói, nói lấy được! Có những điều kẻ ít học nhất cũng hiểu mà kẻ có đầy mình học vị, không hiểu. Cái sự vô lý đó không phải do kiến thức mà do lợi ích chi phối. Kẻ học vị cố tình không hiểu là do sợ ảnh hưởng đến quyền lợi bản thân, đến chiếc ghế anh ta đang thụ hưởng,.. thế thôi! Có những việc người đang chức không thấy, không hiểu, nhưng khi về hưu lại hiểu, lại thấy. Dẫn đến tình trạng, khi đang chức không nói, hoặc nói khác, nhưng khi về hưu lại nói hoặc nói hoàn toàn ngược lại. Sự thay đổi cách nói này có hai nguyên do, thứ nhất là do thay đổi nhận thức, thứ hai là do bản chất sống cơ hội. Thay đổi nhận thức có thể là do khi đang chức mải mê công việc, do chỉ nghiên cứu lý thuyết xuông, xa rời thực tế, xa dân. Nay về với cuộc sống đời thường, cuộc sống thực, được va chạm nhiều với thực tế, được sống cuộc sống của dân,.. nên dần dần “mở mắt” ra! Mở mắt ra nên đã nói được tiếng nói của dân! Lại có vị về hưu, nhận thức không khác xưa là bao, nhưng  có biểu hiện “thức thời”, gần gũi mọi người, nói và thuyết giảng rất hay về Nhân dân và vai trò của Nhân dân. Nhưng đi sâu mới thấy, ông ta chỉ đóng vai một kẻ “thức thời”, bắt chước tiếng nói của dân,làm cho nhiều người lầm tưởng anh ta đã trở lại thành dân thường. Họ bắt chước tiếng nói của dân chỉ để tiếp tục lợi dụng dân mà thôi. Nguyên tắc sống của loại người này là “gió chiều nào che chiều ấy”. Họ sẵn sàng “trở cờ” khi sinh mệnh chính trị của họ bị đe dọa. Họ cố bắt chước tiếng nói của dân, nhưng không bao giờ họ trở thành người dân như triệu triệu người dân bình thường chúng ta đươc. Đấy cũng chính là bọn người NÓI LẤY ĐƯỢC – “được” đây là được cho chính lợi ích của bản thân họ!

 

*****

VỀ MỘT CHỮ CỦA TỔNG BÍ THƯ 

Vâng, kẻ ít học này hôm nay chỉ dám lạm bàn về đúng MỘT CHỮ của đương kim TBT Nguyễn Phú Trọng. Chữ đó là chữ “TIN”. Chữ TIN đó được nhắc tới trong câu nói: “Hơn 80 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình chính là bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho dân tộc; bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết chặt chẽ, vững chắc, “trăm người tiến đánh chỉ như một người”; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ”. Câu nói đó được trích từ “Bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XI” của ông TBT (http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30013&cn_id=499576). Từ khi còn là một đứa bé, tôi đã được dạy rằng: “Mất lòng tin là mất tất cả” và: “Một sự bất tín vạn sự bất tin”. Đảng nói, Bác Hồ nói hay ai đó nói thì thú thật tôi không nhớ nữa. Nhưng câu này của Bác Hồ thì tôi nhớ: “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được tin cậy và mến phục không” (Sửa đổi lề lối làm việc-Hồ Chí Minh toàn tập). Một bài hát rất phổ biến một thời, cũng có câu “Được Dân mến, được Dân TIN muôn phần…”. Như thế rõ ràng có thể khẳng định, từ rất lâu, chúng ta đã hiểu được điều cốt yếu này: Phải sống, làm việc thế nào để được Dân mến, Dân TIN. MẾN và TIN thực ra chỉ là một. Không thể MẾN một người mà ta  không TIN cũng như không thể TIN một người mà ta không MẾN! TIN nói ra lời chưa hẳn tin, chưa tin hoàn toàn. Muốn biết người khác có tin, còn tin mình hay không, đừng hỏi mà phải kiểm nghiệm bằng hành động thực tế. Phát từ quan sát VIỆC LÀM,  chứ tuyệt không căn cứ LỜI NÓI. Điều này cũng là chân lý. Không thể có sự chứng minh ngược lại. TIN là sự TỰ GIÁC, TỰ NGUYỆN. Không thể cưỡng chế, không thể dùng cường quyền. Tin đương nhiên sẽ THEO – Nghe theo và làm theo. Cho nên chỉ cần quan sát xem người ta có nghe theo, làm theo không là đủ biết họ có tin hay không tin; còn tin hay không còn tin. TIN phải xuất phát từ ý chí, BẰNG KHỐI ÓC và CON TIM. Phải TIN TỪ TRONG MÁU, TRONG LÒNG, tận đáy lòng. Tin như thế mới thành sức mạnh, sức mạnh như thế mới có thể vô địch. TIN phải từ hai phía, luôn luôn từ hai phía. Khi phía này thiếu hoặc mất tin ở phía kia, thì sự tin không tồn tại. Muốn DÂN TIN, trước hết phải TIN DÂN. TIN luôn hai mặt, bởi hai mặt là thuộc tính của mọi sự vật và hiện tượng: TIN là điều kiện tiên quyết để hành động thành công. Nhưng “cả tin”, tin mù quáng… lại là nguyên nhân dẫn đến thất bại (Tin vào lời hứa của kẻ thù thì mất nước có ngày; tin vào sự tự giác cải tạo của giặc tham nhũng thì không thể ngăn chặn được quốc nạn này – tin như thế dễ làm cho bọn tham nhũng cười vào mũi chúng ta!). TIN trước hết cần TỰ TIN. Khi bản thân mình đã không tin mình, thì công việc hỏng ngay từ khi bắt đầu; nhưng quá tự tin lại dẫn đến chủ quan khinh địch, cũng dễ thất bại. TIN phải đi đôi với cảnh giác, mới không bị lợi dụng; nhưng quá cảnh giác, cảnh giác cả với ân nhân, cảnh giác cả với người đã đem của cải, tính mạng ra để chứng minh đức tin của họ… thì đấy lại là sự mất cảnh giác nguy hại nhất; là vô tình mắc mưu kẻ thù, bởi kẻ thù rất muốn dùng chiêu bài đó để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân! Cách mạng Tháng Tám thành công là điển hình hùng hồn của đức TIN của cả Dân tộc Việt Nam ta thời điểm đó – Gái cũng như trai, thanh thiếu niên cũng như các cụ bô lão, công nông binh cũng như trí thức, tầng lớp người này cũng như tầng lớp người khác… Đức tin đó đã biến thành SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH làm tan rã hoàn toàn và nhanh chóng chế độ xã hội cũ. Quả như vậy, bởi ngoài sức mạnh LÒNG TIN CỦA NHÂN DÂN, lúc ấy CÁCH MẠNG còn trong “trứng nước”, chưa có một lực đáng kể nào khác, ngân khố Nhà nước trước “tuần lễ vàng” là trống không, nạn đói lại vừa giết chết hơn hai triệu đồng bào (gần mười phần trăm dân số nước ta hồi đó!). … Đảng lãnh đạo Cách mạng thành công, tổ chức Kháng chiến thắng lợi là nhờ biết DỰA vào Dân, dựa từ lòng tin đến của cải vật chất; dựa từ tinh thần đến tính mạng con em Dân. Và ngay trong cái việc DỰA VÀO DÂN này cũng xuất phát từ lòng TIN – Không TIN làm sao dám DỰA? Không TIN làm sao cho DỰA? TIN – Vâng, tất cả đều bắt đầu từ TIN! DÂN TIN CÁCH MẠNG, TIN ĐẢNG; ĐẢNG và CÁCH MẠNG TIN DÂN. Một khi Dân chỉ muốn Đảng LÀM ĐÚNG NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG NÓI. Một khi Dân chỉ LÀM đúng những điều Đảng phát động (như chống tham nhũng và đấu tranh bảo vệ chủ quyền Tổ quốc chẳng hạn) thì Đảng phải TIN DÂN chứ? Cảnh giác Cách mạng là cần thiết, nhưng cảnh giác thế nào để Dân TIN Đảng, Đảng TIN Dân mới là ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI CHỦ TRƯƠNG. Mà điều ấy không khó, hoàn toàn không khó đối với một Nhà nước đã có gần 70 năm xây dựng và trưởng thành. Ấy là chưa kể đến việc chúng ta đã và đang có cả một BỘ MÁY CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN HÙNG HẬU bậc nhất kể từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Chúng ta đã nhiều lần xác định: “Tham nhũng là quốc nạn, là nội xâm”. Thực tế cho thấy: Chống giặc ngoại xâm thắng lợi là do đức TIN được xác lập từ cả hai phía – Dân và Đảng. Chống giặc nội xâm hay bất cứ giặc nào, giặc dốt hay giặc đói, cũng vậy. Không thể đơn độc một lực lượng nào chống được, mà phải là TOÀN DÂN. Toàn dân nhất trí đồng tình, toàn dân tham gia đấu tranh, toàn dân tin tưởng, toàn dân là chỗ dựa vững chắc. Và… TOÀN DÂN BIẾT MÌNH ĐƯỢC TIN TƯỞNG! Nếu không làm được như thế, hậu quả sẽ là kẻ thù, chính kẻ thù sẽ lợi dụng điều đó để tiếp tục chống phá, cả kẻ thù ngoại xâm lẫn kẻ thù nội xâm – bọn tham nhũng. Bác Hồ nói: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng” (Sửa đổi lề lối làm việc-Hồ Chí Minh toàn tập). Chỉ có TIN Dân lắm, coi trọng Dân lắm, Bác Hồ mới có câu nói bất hủ như vậy! Giấu giếm chứng tỏ không tin, không tin mới giấu giếm. Giấu giếm chứng tỏ không trong sáng, không đàng hoàng, không mạnh.  Đã giấu giếm thì không được ai  tin; không ai tin thì giấu giếm bằng thừa. Ông TBT Nguyễn Phú Trọng sau khi nhắc lại những điều Bác Hồ dạy, cũng nói: “Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp. Không ít vấn đề lý luận và thực tiễn chưa đủ sáng tỏ” (Tài liệu đã dẫn). Rồi TBT nêu ra các biện pháp khắc phục (tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta). Trong các biện pháp đó, thiết nghĩ biện pháp “tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân” cần được coi là quan trọng hơn hết. Vâng, “tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân” chính là để “dựa vào Dân” để tiến hành mọi công việc.  Muốn dựa vào Dân phải tin Dân. Đồng thời Dân chỉ thành chỗ dựa khi Dân có niềm tin! Không tin thì không thể có quan hệ mật thiết được.

 

 

 

 

*****

ĐỪNG BIẾN NHÂN DÂN THÀNH CÁI “MỘC”!

Cái việc MƯỢN DANH, NÚP DANH người có chức có quyền thế để hù dọa thiên hạ, hù dọa người “thấp cổ bé họng”, hù dọa NHÂN DÂN là chuyện xưa nay không hiếm. Xưa có và nay cũng có! Nhưng MƯỢN DANH, NHÂN DANH hoặc NÚP DANH NHÂN DÂN để hù dọa lại NHÂN DÂN và che đậy tội lỗi của QUAN, thì có lẽ cái thời DÂN CHỦ này mới… phát! Lấy ví dụ nóng hổi là cái vụ cưỡng chế Tiên Lãng. Đầu tiên xin dẫn lại lời Ông Đỗ Hữu Ca – Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng trả lời báo chí:  “Khi chúng tôi cưỡng chế, người dân nơi đây rất đồng tình (Vnexpress). Ông Công an này còn khen trận bao vậy cưỡng chế Tiên Lãng là một “trận đánh đẹp” “cần được học tập” nữa kia!– Sau ít ngày, thấy đổ cho Dân thế không còn ổn nữa, ông đại tá này có đổi giọng: “Công an Hải Phòng đã tham gia  hàng trăm vụ cưỡng chế, đều đạt kết quả tốt. Nhưng có phương pháp đúng là mọi việc êm đẹp ngay. Kể cả khi đối tượng đã tỏ thái độ chống đối rồi thì giải thích, thuyết phục vẫn có thể đem lại kết quả”. Và: “Bản chất vấn đề là bảo vệ lợi ích. Mà đã gọi là lợi ích thì sẽ có thiệt, hơn. Lấy lời phải ra mà khuyên giải họ, dẫu có không đạt được sự quy phục ngay thì cũng sẽ hiệu quả trong việc giảm bớt mức độ chống đối”. Và nữa: “Từ xưa đến nay các vụ cưỡng chế phải xác định quan điểm giáo dục là chính. Tôi xin nhắc lại lần nữa là không thể coi đối tượng giải phóng mặt bằng là tội phạm, đừng để họ đối đầu với mình khi không cần thiết(Công an Nhân dân, 16/1) Tiếp, xin dẫn lại lời ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBND TP.Hải Phòng: “Sau khi vụ việc xảy ra, quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân các xã khu vực ven biển huyện Tiên Lãng, rất bất bình, đề nghị cơ quan chức năng phải sớm đưa ra xét xử nghiêm minh đối với những người cố tình chống đối(Tuổi Trẻ, 18/1). Vậy là, theo hai ông cán bộ họ Đỗ, hai vị có trách nhiệm khá quan trọng của Hải Phòng, việc cưỡng chế gia đình ông Vươn, được NHÂN DÂN đồng tình (ông Đỗ Hữu Ca nói: “RẤT ĐỒNG TÌNH”), bởi họ đã hành động theo đúng nguyện vọng của nhân dân?!. Nhưng, xin nghe chính những người GẦN DÂN nhất, nói gì. Đây là lời ông Đoàn Văn Mễ, trưởng thôn Thúy Nẻo, xã Bắc Hưng, Tiên Lãng: “Gia đình còn nghèo nhưng Vươn vay tiền tỉ quyết đầu tư hết vào đầm nuôi trồng thủy sản cùng em trai là Đoàn Văn Quý. Năm 1993, vợ chồng Vươn kéo nhau ra bãi bồi hoang ven biển đầu tư tiền của, công sức cải tạo thành đầm nuôi trồng thủy sản. Con gái đầu của vợ chồng Vươn bị chết đuối tại đầm từ nhỏ khi theo bố mẹ đi khai hoang” (Tiền Phong, 16/1). Và đây là lời ông Phạm Văn Danh, nguyên Bí thư đảng ủy xã Vinh Quang (nơi vụ việc cưỡng chế): “Để thực hiện “canh bạc” với trời đất, ông Đoàn Văn Thiểu, bố của Vươn đã phải bán đàn vịt 1.000 con và 20 tấn thóc. Vươn huy động tất cả anh chị em cùng bà con, làng xóm cùng tiến ra vùng biển hoang… Nhiều năm vật lộn với trời đất được đền đáp bằng bờ kè dài chừng hai km, tạo nên bãi bồi màu mỡ, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương. Khu đầm còn là lá chắn vững chãi cho khu dân cư phía trong đê. Tôi và cả xã Vinh Quang không ngờ Vươn làm được và thành công(Vnexpress, 11/1). Nguy hại hơn, khi dư luận cả nước tỏ ra bất bình về hành vi đập phá ngôi nhà hai tầng của gia đình ông Vươn, ngày 17/1/2012, ông Phó Chủ tịch UBND TP.Hải Phòng Đỗ Trung Thoại còn MỊ DÂN bằng “chước” ĐỀ CAO VAI TRÒ NHÂN DÂN, biến nhân dân thành cái MỘC che dấu tội lỗi (mà như lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là “sai cả luật và đạo lý”) cho chính các ông quan ấy với lời tuyên bố: “Lực lượng cưỡng chế không phá mà do nhân dân bất bình (với hành vi, thái độ của gia đình ông Đoàn Văn Vươn – PV) nên đã phá” (Đất Việt, 17/1). Và: “Đây chỉ là gian nhà xây lên để trông coi. Sau khi vào, tổ công tác cần rà phá bom mìn cho cả khu vực có tìm được vũ khí, vật liệu nổ. Tổ định không phá nhưng do nhân dân bất bình nên phá vỡ” (Sài Gòn Tiếp Thị, 17/1). Và nữa: “Sau vụ nổ súng, chống người thi hành công vụ, lực lượng công an phải rà phá và tìm được vũ khí, vật liệu nổ trong nhà. Các đồng chí báo cáo không ra lệnh san phẳng nhà, nhưng do nhân dân bất bình nên vào phá, chứ còn lực lượng cưỡng chế của huyện, lực lượng công an không san phẳng nhà này(Dân Việt, 18/1). Và một điều đáng buồn nữa: Khi không thể lợi dụng dân được nữa thì một số quan quay ra dùng chiêu DỌA DÂN. Dọa như thế nào? Cách thông dụng nhất của các quan loại này là ĐỪNG ĐỂ “ĐỊCH”, để “KẺ XẤU” LỢI DỤNG, như cách nói của cái nhà ông Thường vụ-Trưởng ban Tuyên giáo huyện Tiên Lãng trong cuộc họp tại Thị trấn Tiên Lãng ngày 3/2/2012: “dư luận còn có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí không đúng bản chất sự việc gây nghi ngờ, gây phân tâm cho một bộ phận cán bộ đảng viên và quần chúng rất dễ bị các phần tử xấu lợi dụng. Nhất là trên mạng Internet và các blog” . Thế là DÂN PHẢI IM HẾT, vì đã nói đến thế, chả ai dám cãi nữa, cãi nữa để bị vu là “theo đuôi KẺ XẤU”, là “bị PHẢN ĐỘNG lợi dụng”, thì nguy! Cái thói lợi dụng QUYỀN LỰC, “cả vú lấp miệng em” này tưởng sẽ như êm xuôi như mọi khi, bởi người dân đã được THUẦN DƯỠNG (!) (Câu của ngài đại tá công an họ Đỗ: “Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế” .(Vnexpress)), ai dè laị bị báo chí dồn hỏi, bị dư luận nghi vấn rồi bị nhiều cán bộ cao cấp lên án. Nên, đến ngày 7/2/2012, tức là sau ngày có lệnh của Thủ tướng, Nhân dân cả nước lại được nghe ông Bí thư thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành tuyên bố: “huyện Tiên Lãng đã chưa thực hiện đầy đủ một số nội dung theo quy định về trình tự đền bù, hỗ trợ và thu hồi đất theo quy định của luật đất đai nên đã để xảy ra chống đối người thi hành công vụ”. Và ông Bí thư Hải Phòng còn nói rõ: “Tiên Lãng cũng không có phương án sử dụng đất sau khi thu hồi của cơ quan có thẩm quyền để công bố công khai đối với người có đất bị thu hồi; không thành lập hội đồng đền bù hỗ trợ trước khi thu hồi; không tổ chức đối thoại với người được giao đất bị thu hồi với người ký quyết định cưỡng chế thu hồi. Và nữa: “Sau cưỡng chế, lãnh đạo địa phương cũng đã để xảy ra việc nhà trông đầm nuôi trồng thủy sản của gia đình ông Vươn bị phá hủy; việc tổ chức cưỡng chế vào thời điểm không hợp lý sát tết, gây phản ứng trong dư luận”. Vậy đấy! Nếu không có sự vào cuộc của Thủ tướng, hẳn rằng một lần nữa, CÁI MỘC NHÂN DÂN lại thành vật che chở tội lỗi cho các quan chức bất chính. ———– Những trích dẫn trong bài đều lấy từ nguồn: http://tuanvietnam.net/2012-02-05-tien-lang-nhung-phat-ngon-doi-nguoc:

*****

NHỎ NHẺ VÀI ĐIỀU NGHE VÀ THẤY  Ở BỆNH VIỆN

Lâu lắm mới phải nằm điều trị ở bệnh viện. Thoạt đầu thấy trong người mệt mỏi, soi gương thấy da trắng xanh, mắt vàng, bà xã ép phải đi khám bệnh ngay. Lưỡng lự mãi rồi cũng phải “chấp hành”. Đến khám ở bệnh viện đa khoa tỉnh, cũng được đưa đi siêu âm, lấy máu xét nghiệm, chụp xquang… Khi bác sĩ xem kết quả, kết luận không có vấn đề gì lớn, cấp cho (cho không) hai chục viên thuốc hoạt huyết dưỡng não và một vài thứ thuốc khác, trị giá độ vài chục nghìn đồng. Chiều ấy về nhà, tin bác sĩ, đi bộ ra phố, mới được ba, bốn trăm mét đã tí bị ngất xỉu! Vậy là vợ con bắt phải “vượt tuyến” lên Hà Nội khám. Bác sĩ khám qua đã kêu lên: “Sao cụ để mất hồng cầu nặng đến mức này, mới vào viện?” và cho biết chỉ chậm nhập viện vài ngày, có thể khó an toàn tính mệnh – Thế mà vừa rồi, bà tân bộ trưởng Y tế lại có ý gạt bớt bệnh nhân về “tuyến dưới” để “tuyến trên” không bị nạn “quá tải”! Làm như thế khác gì đẩy bệnh nhân vào cảnh “cá ở trên thớt”, thậm chí chết oan có ngày? Nằm 12 ngày liền, khám đủ các bộ phận, từ tim, phổi, dạ dày, đến đại tràng… Sợ nhất là cái khoản soi dạ dày: Bác sĩ cho một đường dây đưa chiếc camera bé tí tẹo luồn qua cổ họng, xuống . Đau thì có đau, nhưng chịu được. Nhưng buồn nôn thì quả là phải cố gắng lắm mới không bị ói ra… Tất cả các bộ phận trong cơ thể đều không có biểu hiện mất “hồng cầu”. Vậy là chỉ còn nghi cho… tủy sống! Chao ôi, đả động đến tủy sống thì nghiêm trọng lắm rồi, lên “mạng internet”, đọc được khá nhiều thông tin về cái vụ tủy sống này. Thôi thì, phó thác cho số mệnh chứ biết làm sao? Cuối cùng bác sĩ quyết định lấy tủy sống đi xét nghiệm, ba ngày sau cho biết mình bị mất tới 80% hồng cầu là do “rối loạn sinh tủy” – Một căn bệnh cũng khá nặng, chưa phải ung thư máu, nhưng cũng không loại trừ khả năng sẽ dẫn đến căn bệnh đó! Nghe bác sĩ giải thích, mình hiểu nôm na rằng, cái bọn tủy sống của mình chúng đang “lãn công”, không chịu sản xuất ra hồng cầu để duy trì các hoạt động của cơ thể. Tuy nền Y-học hiện đại rất phát triển, nhưng việc truy tìm ra “những kẻ cầm đầu” cái vụ lãn công này để trừng trị là rất khó. Cách chữa bây giờ chỉ đơn giản là: Khi nào thấy người mỏi mệt, nên đến bệnh viện kiểm tra, nếu thấy lượng hồng cầu giảm 25%, phải tiếp máu ngay! Bệnh này phải chung sống như kiểu dân Nam bộ vẫn nói: “sống chung với lũ”, chả có cách nào hơn. Cũng may, cậu con út thương bố, kiếm cho bố một bệnh viện được giáo dục tốt về đạo LƯƠNG Y, nên tuyệt không có NẠN PHONG BÌ. Mổi khi bạn và gia đình đến thăm, mình thường đùa: Ở đây, chỉ được phép đưa phong bì cho bệnh nhân, còn với thày thuốc thì không! Quả thật, bệnh nhân nằm bệnh viện này được các y bác sĩ chăm sóc khá chu đáo và tôn trọng – được coi là NGƯỜI BỆNH chứ không phải là CON BỆNH như những nơi khác. Đồng thời, do không phải lo lót, nên trong quan hệ hàng ngày giữa bệnh nhân, người nhà bệnh nhân với y, bác sĩ cũng trở nên tự nhiên, đàng hoàng hơn, gần gũi thân mật hơn và tôn trọng, quý mến nhau hơn… Nằm 12 ngày ở bệnh viện “tuyến trên”, các bệnh nhân cùng phòng có nhiều chuyện kể với nhau lắm, đặc biệt là chuyện về cách và thái độ chữa bệnh của các “mẹ hiền” các “tuyến dưới”. Một chị nông dân đi xe đạp bị xe công nông va phải, ngã gãy tay. Vết gãy rõ đến mức người trần mắt thịt không có chuyên môn y tế, cũng thấy xương gẫy chồng lên nhau một đoạn khoảng dăm phân. Vậy mà bác sĩ – mẹ hiền “tuyến dưới”, chả thèm sửa, nắn gì, cứ để nguyên thế, tiến hành bó bột! Chuyện ấy chưa là cái gì, còn khá nhiều trường hợp, khi “tuyến dưới” buộc phải đưa bệnh nhân lên “tuyến trên”, lúc nhận bàn giao, bác sĩ “tuyến trên” đã không nể nang nói thẳng vào mặt y, bác sĩ “tuyến dưới”: “Làm sao mà bệnh nhân mắc bệnh này các anh lại cho dùng thuốc ấy?”. Có trường hợp nội soi dạ dày, nhưng lại chọc vào phổi, bệnh nhân chết ngay trên giường bệnh nữa! Còn việc chẩn đoán sai bệnh là chuyện thường ngày, đến mức đã được bệnh nhân đúc kết thành: “bác sĩ nói không có bệnh, có khi là đang bệnh nặng; bác sĩ nói bệnh nặng, nhiều khi lại chả có bệnh gì”!… Hôm nay đọc trên báo mạng, thấy có tới 3 sản phụ bị chết oan ngay trên bàn đẻ các bệnh viện “tuyến dưới” (Bắc Ninh, Hưng Yên…) mà xót xa quá chừng! Than ôi, mệnh con người sao mà mỏng manh! Đến đây lại phải có lời thưa với bà bộ trưởng, bà không thể cấm bệnh nhân “vượt tuyến” được đâu, bởi muốn sống, muốn chữa được bệnh, khó mấy, tốn mấy, bệnh nhân chúng tôi cũng vẫn phải “vượt” thôi, trừ phi bà nâng cao được chất lượng thực sự cho bệnh viện tuyến dưới – một điều còn khó giải quyết hơn cả nạn “quá tải”, thưa bà! 12 ngày ở bệnh viện trung ương, mặc dù mình vẫn tỉnh táo và tự xử lý các sinh hoạt cá nhân, nhưng vợ con vẫn khá vất vả: Nấu cơm, đưa cơm, dẫn đi làm các xét nghiệm, gọi điều dưỡng viên khi ống truyền máu, truyền đạm… bị nghẽn v.v. Đêm con trai phải ngủ lại phòng bệnh đề phòng có chuyện bất trắc. Thế là phải lo chỗ nằm cho con chứ ngồi suốt đêm sao được? Vậy là mỗi bệnh nhân phải kèm ít nhất 1 người phục vụ 24/24 mỗi ngày. Bệnh viện vốn quá tải, càng thêm quá tải – Mình nghĩ: Giá như Bộ Y tế quy định việc chăm sóc bệnh nhân không để gia đình bệnh nhân làm, mà giao cho điều dưỡng viên làm, thì sẽ giảm được số người trong phòng bệnh, phòng bệnh sẽ luôn thoáng mát, sạch sẽ và bệnh nhân được chăm sóc có bài bản hơn. Tôi tin gia đình nào cũng sẵn sàng góp thêm tiền để trả công cho điều dưỡng viên để được ở nhà làm các việc khác kiếm tiền nuôi người bệnh. Như thế, có khi lại còn giúp tằng thêm chỗ làm cho một số điều dưỡng viên chưa có công ăn việc làm ấy chứ… Một lão bệnh nhân nằm cạnh thấy mình nói vậy, liền nói: Trước chiến tranh chống Mỹ, các bệnh viện ở ngoài Bắc mình đã làm như thế rồi, người nhà bệnh nhân chỉ được vào thăm mỗi tuần một lần thôi. Vậy là lại nhớ đến câu “bao giờ cho đến ngày xưa?”! Còn nhiều chuyện nữa muốn nói, nhưng vì mới xuất viện, sức khỏe chưa thật sự hồi phục, xin tạm dừng ở đây. Hy vọng sẽ có ngày được kể tiếp.

 

 

 

*****

“XÂY CHO NHÀ CAO CAO MÃI” –  CÒN VỊ THẾ NGƯỜI THỢ LÚC NÀY?

 “LÚC NÀY” nói ở đây là muốn nói về lúc mà hầu hết các doanh nghiệp XÂY DỰNG đều đã CỔ PHẦN HÓA. “LÚC NÀY” nói ở đây còn là muốn nói về giai đoạn đang suy thoái của BẤT ĐỘNG SẢN. Vâng! Nhà thì đúng như câu ca trong một bài hát phổ biến một thời, NHỮNG ÁNH SAO ĐÊM[i], “xây cho nhà cao cao mãi Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta”. Nhưng thực trạng VỊ THẾ và ĐỜI SỐNG NGƯỜI CÔNG NHÂN XÂY DỰNG hiện tại ra sao, thì không biết các cơ quan chức năng như Bộ Lao động, Tổ chức Công đoàn,… có cuộc điều tra tìm hiểu nào chưa? Nhân ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5, xin được có đôi lời như sau: 1/ VỀ VAI TRÒ LÀM CHỦ, VAI TRÒ “GIAI CẤP LÃNH ĐẠO” CỦA NGƯỜI CÔNG NHÂN XÂY DỰNG: Có thể khẳng định, sau CỔ PHẦN HÓA, các vai trò nói trên của đại bộ phận những công nhân XÂY DỰNG, đã giảm đi rất nhiều so với thời họ còn làm việc trong các Doanh nghiệp Nhà nước.  Tình trạng hiện tại, vai trò LÀM CHỦ đã trở thành vai trò LÀM THUÊ. Không chỉ làm thuê cho “ông chủ” doanh nghiệp, mà còn làm thuê cho các ông bà Đội trưởng. Thậm chí ngay đối với hàng ngũ Tổ trưởng, Nhóm trưởng, người thợ cũng chỉ là người đi làm thuê, không hơn không kém. Có việc thì họ gọi, “tử tế” với họ thì họ gọi cho đi làm. Còn không, cứ ở nhà “chờ đấy” và còn phải lo kiếm tiền nộp “Bảo hiểm” để khi đủ tuổi còn được làm thủ tục về hưu… Từ nhiều năm qua, hầu như không còn nghe thấy tiếng nói đấu tranh đòi có việc làm trong giới công nhân xây dựng? Ai thấy ở Doanh nghiệp nào có, xin mách dùm. Nhu nhược và cam chịu là tình trạng phổ biến đối với tầng lớp công nhân này! Vị thế người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa còn bị hạ cấp bởi những CỔ ĐÔNG này thường có CỔ PHẦN rất nhỏ so với các ông chủ. Lá phiếu của họ trong ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG do đó không thể “bình đẳng” như khi doanh nghiệp chưa cổ phần hóa. Vai trò “LÀM CHỦ” tiêu vong thì làm sao còn vai trò “LÃNH ĐẠO”? Ngay đến người công nhân là đảng viên, cũng phải chung số phận. 2/ MỘT BỘ PHẬN NGƯỜI CÔNG NHÂN XÂY DỰNG HIỆN BỊ GIỚI CHỦ LỢI DỤNG ĐỂ CHIẾM ĐOẠT TIỀN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI: Có một thực tế là, trong DỰ TOÁN và trong QUYẾT TOÁN công trình, luôn luôn có 2 khoản kinh phí liên quan đến tiền đóng BẢO HIỂM của người lao động: Một là CHI PHÍ NHÂN CÔNG (có 6%) và hai là CHI PHÍ CHUNG (có 15%). Các ông chủ thường không “thích” gọi các công nhân trong biên chế đã có tuổi, sức yếu, tay nghề trung bình đi làm, mà tìm gọi những lao động ngoài xã hội. Làm như thế, các ông chủ đã thu được khoản tiền từ người lao động không được đi làm, “tự nguyện” nộp vào để chờ đến ngày đủ tuổi về hưu. Trong khi đó ông chủ vẫn được thanh toán đầy đủ tiền BẢO HIỂM theo QUYẾT TOÁN! 3/ ĐỜI SỐNG ĐÃ VỐN VẤT VẢ GIAN NAN, NAY LẠI CÀNG KHÓ KHĂN: Nghề xây dựng vốn là một nghề lao động vất vả và càng vất vả hơn do tính chất hoạt động lưu động, nay công trường này, mai công trường khác (Nguyễn Bính: “Anh đi xây dựng những công trình/ Ngày lại qua ngày ngủ lán tranh/ Khi những tầng cao lên ngói đỏ/ Là lúc ba-lô lại khởi hành!”). Môi trường làm việc như thế, công cụ lao động lại chậm được cải tiến, nên người công nhân xây dựng lúc nào trông cũng NHẾCH NHÁC, nghèo khổ. Cũng do làm việc vất vả nên sức khỏe mau giảm sút, năng suất lao động ngày một thấp… khiến các ông bà chủ ít muốn “thuê”. Đã không được gọi đi làm, lại phải đóng phí bảo hiểm, nên đời sống của những công nhân này đương nhiên là vô vàn khó khăn. Bước sang năm 2011 đến nay, thị trường BẤT ĐỘNG SẢN suy thoái, mọi khó khan về đời sống lại trút lên vai người thợ xây dựng.Khi còn làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước, LỢI NHUẬN và PHÚC LỢI là những yếu tố phân phối theo LƯƠNG, mà “lương” thời ấy chênh lệch rất ít, nên không có hiện tượng THU NHẬP quá chênh lệch như ngày nay, tạo nên khoảng cách giầu nghèo một cách rõ rệt hơn bao giờ hết giữa thợ và giới chủ. Vậy đấy! Và một câu hỏi được đặt ra lúc này là: Đến bao giờ NGƯỜI THỢ XÂY lấy lại được VỊ THẾ và VAI TRÒ LÃNH ĐẠO vốn có của GIAI CẤP mình từ sau Cách mạng tháng TÁM; để lại có thể tự hào cất cao tiếng hát: Bạn đời ơi ! Hãy tin, hãy yêu, và hát cùng chúng tôi Những người thợ xây, tin yêu cuộc đời mới[ii]Xin chuyển câu hỏi ấy đến các Cơ quan chức năng, nhân dịp ngày 1 tháng 5 năm nay!

 

 

*****

ĐỐ BIẾT LÀ… CON GÌ?

Có một câu đố xưa: “Mồm bò, không phải mồm bò, lại là mồm bò – đố là con gì?”! “Mồm bò” thứ nhất có ý “cái mồm nó bò”, hay “bò bằng mồm”. “Mồm bò” thứ hai có nghĩa là “mồm con bò” và “Mồm bò” thứ ba lại trở lại nghĩa ban đầu. Con vật đó chính là ốc sên – Một động vật thuộc loại “bò sát”, di chuyển bằng… mồm! Đương nhiên câu đố ấy có thể hơi khó với một số trẻ em. Tuy vậy, cái vui của câu là cả người đố và người giảng đều… cười khoan khoái! Mọi động vật có CHÂN, dù hai chân, bốn hay nhiều chân, đều dùng chân để di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Động vật nào không có chân, phải di chuyển bằng BÒ. Đương nhiên rồi. Nhưng có con bò bằng trườn thân (Rắn, Trăn…), có con vừa dùng thân trườn, vừa kết hợp dùng chân, để di chuyển – Đó là Cá sấu. “Đi” khác “bò” ở chỗ đi thì thân cao hơn mặt đất, bò thì bụng áp sát mặt đất. Động vật có ít chân thường dùng chân để “ĐI”. Động vật nhiều chân như con rết, thì sự di chuyển của nó khó có thể gọi đấy là “ĐI” hay “BÒ”. Nhưng trong thực tế, có loài vật có ít chân hẳn hoi mà vẫn bò – lại là động vật nổi tiếng hung dữ. Đó là con chó, con hổ, con báo… Trước những miếng ăn hấp dẫn và dưới cái roi chỉ huy mềm mại của diễn viên xiếc, mấy chú thú kể trên rất ngoan ngoãn thực hiện các trò… BÒ ngoạn mục! Có động vật chỉ đi, không bao giờ bò, vậy mà lại bị gọi là… Bò – con Bò. Con Người – “động vật cao cấp” thuộc loại ít chi, chỉ có bốn. Hai chân và hai tay. Nhiều con vật khác cũng có bốn chi, nhưng cả bốn đều là chân. Chỉ có hai chân, nhưng con Người vừa biết đi lại cả vừa biết bò! Nhưng đặc điểm khác biệt lớn nhất của con Người so với các động vật khác, là khi mới được sinh ra, phần lớn các con vật đều đứng và đi được sau một thời gian rất ngắn; còn con Người thoạt sinh ra chỉ biết “nằm ngửa” (ăn sẵn!), sau mới biết lật sấp lại, ngửng đầu lên – “lẫy”. Sau giai đoạn tập lẫy, mới chuyển sang tập “bò”, cuối cùng mới tập “đi”. Đi mãi cho đến khi già, con người lại trở lại di chuyển bằng cách bò, cách nằm ngửa ăn sẵn (không phải là không có kẻ còn trẻ, còn khỏe, vẫn “nằm ngửa ăn sẵn”…). Tuy ĐI là hành vi di chuyển phổ biến nhất của con Người từ tấm bé, nhưng lúc trưởng thành, nếu gặp chiến tranh, ra trận con người phải “bò”, “trườn” để bí mật tiếp cận địch. Càng gần địch càng phải hạ thấp thân mình xuống để Bò, tức là “trườn” như con Rắn. Còn hơi xa địch thì có thể dùng cả hai tay hai chân bò khom khom. Con người cũng đôi khi phạt nhau bằng cách bắt kẻ có lỗi phải “bò”. Trẻ em bị phạt đã đành, người lớn cũng bị phạt bò đấy. Có lỗi,bị phạt bò còn có thể hiểu, không mắc lỗi, vẫn bò, thời chỉ có… con Người! Đấy chính là một cách tiến thân. Trước khi dùng chiêu thức bò, một số kẻ muốn tiến thân thường tập khom lưng, tập uốn gối, tập “đi” bằng đầu gối..! Qua một quá trình sinh sống, có những động vật đã dần mất hết bản chất, biến thành con vật khác – từ hành động đến suy nghĩ, nhưng vẫn giữ nguyên được cách di chuyển và cách phát âm của nòi giống. Đó cũng lại chính là con… Người. Và đến đây, người viết nảy ra một câu đố mới, hơi giống câu đố mở đầu câu chuyện này. Xin đưa ra đây để kết thúc câu chuyện: “Chó”, không phải “Chó” mà vẫn là “Chó” hoặc “Chó săn”, không phải “Chó săn” mà lại là “Chó săn”, đố là con gì? Nào, xin quý vị giải đố nhé!

*****

XIN HÃY BỚT LÝ LUẬN SUÔNG

CHÚNG TA ĐƯỢC DẠY BẢO RẤT NHIỀU VỀ VẤN ĐỀ “BÌNH ĐẲNG”, ĐẶC BIỆT LÀ “BÌNH ĐẲNG VỀ PHÁP LUẬT”. NÀO LÀ “Thượng tôn pháp luật”, NÀO LÀ “Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng”, NÀO LÀ “Không có vùng cấm trong thực thi pháp luật ” v.v… NHƯNG THỰC TẾ THẾ NÀO? “CÓ LUẬT CHO DÂN VÀ CÓ LUẬT RIÊNG CHO QUAN KHÔNG?”. ĐỂ TRẢ LỜI CÂU HỎI NÀY, TỐT NHẤT LÀ KHÔNG NÓI  LÝ LUẬN SUÔNG NỮA, HÃY TẠM CHỈ XEM CÁCH HÀNH XỬ CỦA LUẬT PHÁP TRONG HAI VỤ VIỆC CÒN NÓNG HỔI SAU: THỨ NHẤT: Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng Hải Phòng – Tạm gọi là “Vụ thu hồi đất đai của Dân”: Căn cứ những gì đã biết, có thể tóm lược như sau: a/ Chính quyền cấp Xã, Huyện và Thành phố đã KIÊN QUYẾT (dùng cả công an, bộ đội, dân phòng…) và… b/ TIẾN HÀNH KHẨN CẤP, KỊP THỜI BẤT KỂ ĐẠO LÝ (triển khai ở thời điểm giáp Tết cổ truyền dân tộc), c/ THỂ HIỆN SỰ ĐỒNG LÒNG, ĐỒNG TÂM (từ cấp Xã, Huyện đến cấp Thành phố…) và… d/ … BẠO LIỆT (phá nhà, phá thành quả lao động của các “đối tượng”). THỨ HAI: Vụ thu hồi nhà (biệt thự) số 12 Nguyễn Chế Nghĩa Hà Nội – Tạm gọi là “Vụ thu hồi nhà Quan”: Xin hãy cùng xem lại thông tin trên các trang báo cũ để đánh giá: a/ PHÁT HIỆN VIỆC CƯ TRÚ TẠI NGÔI NHÀ KHÔNG ĐÚNG CHÍNH SÁCH – Ông cựu chủ tịch Hà Nội định “mua” hẳn ngôi biệt thự công 12 Nguyễn Chế Nghĩa: Báo Tuổi Trẻ ngày 29/9/2006: Hà Nội không bán nhà công vụ cho ông Hoàng Văn Nghiên, cựu chủ tịch Hà Nội: “… Theo cách lý giải của ông Lê Quý Đôn, ngôi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa là công thự do TP quản lý và hộ ông Hoàng Văn Nghiên cũng như các hộ quan chức khác chỉ được bố trí sử dụng trong thời gian công tác tại TP mà chưa có nhà. Theo qui định tại điều 5 của nghị định 61/CP, ngôi biệt thự này không thuộc diện có thể bán cho người đang thuê ở…”. b/ RẤT CHU ĐÁO LẮNG NGHE ĐƯƠNG SỰ TRÌNH BẦY LÝ DO – Ông cựu chủ tịch Hà Nội thanh minh với báo giới: TIN 247.com ngày 03/10/2006: Ông HVNGHIÊN nói gì với phóng viên?  “PV– Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa là nhà công vụ và ông chỉ được ở đó trong thời gian còn đương chức. Vậy quan điểm của ông như thế nào về việc này? HVNG: – Tôi nói đây là nhà của Nhà nước. Nhà nước quyết như thế nào là mình thực hiện chứ mình đâu có quyền muốn như thế này, muốn thế kia. Người ta nói giá mua như thế này, thế nọ nhưng giá đâu có phải là do tôi đặt ra”. c/ RẤT TỪ TỐN, THẬN TRỌNG TRONG BIỆN PHÁP THU HỒI – Lãnh đạo Hà Nội đưa ra hai phương án: TIN 247.com  ngày 03/01/2007: Hà Nội trình 2 phương án nhà ở cho ông HVNG: Chiều 2/1, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Lê Quý Đôn cho biết, lãnh đạo thành phố đã có ý kiến chỉ đạo Văn phòng Ủy ban đôn đốc Sở Tài nguyên Môi trường & Nhà đất nhanh chóng thực hiện việc bố trí nơi ở mới cho các ông Hoàng Văn Nghiên, Phan Văn Vượng – nguyên lãnh đạo thành phố”. d/ MẮC MỚ TRONG VIỆC THU HỒI NẰM Ở CHỖ: NGÔI NHÀ 12 NGUYỄN CHẾ NGHĨA LÀ MỘT TÀI SẢN RẤT “CÓ GIÁ”: Ngôi nhà 12 Nguyễn Chế Nghĩa có gì quan trọng mà khó thu hồi đến vậy? TIN 247.com ngày 30/9/2006: Ngôi nhà 12 Nguyễn Chế Nghĩa đã từng cho thuê với giá 5.000 usd/tháng : “Một cán bộ trực tiếp thu hồi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa cho biết, đầu những năm 90, Hà Nội có chủ trương thu hồi 30 biệt thự trên địa bàn thành phố để cho người nước ngoài thuê. Chủ trương này xuất phát từ việc Hà Nội khi đó chưa có khách sạn cao cấp đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài. Hơn thế, việc cho thuê các ngôi biệt thự sẽ giúp tăng nguồn thu ngoại tệ cho Thủ đô. Khi đó biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa có 12 hộ dân sinh sống theo diện thuê lại của thành phố. Ban đầu, nhiều hộ dân phản đối gay gắt việc thu hồi biệt thự. Tuy nhiên, khi được tuyên truyền, vì lợi ích chung các hộ dân đã đồng tình di chuyển. Tất nhiên, những hộ phải di dời đã được thành phố bồi thường mỗi hộ 50-60 m2 đất. Sau khi được thu hồi, biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa được Sở Nhà đất cho một người Nhật thuê với giá 5.000 USD/tháng. Họ đã đầu tư khá nhiều tiền để cải tạo ngôi biệt thự. Được vài năm, hợp đồng hết hạn, ngôi biệt thự được cho một cơ quan của thành phố mượn tạm. Đầu năm 2002, ông Hoàng Văn Nghiên và gia đình về ở”. đ/ “PHÁP LUẬT BẤT VI THÂN”, QUAN  H.V.NGHIÊN ĐÃ TRẢ LẠI CÔNG SẢN: báo chí cách đây 5 năm đưa tin ông cựu chủ tịch Hà Nội đã trả lại công thự: TIN 247.com ngày 12/02/2007: Ông HVNG trả lại biệt thự công: “Ông Nghiên đã trả lại biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa cho cơ quan quản lý nhà của thành phố theo quyết định thu hồi của UBND thành phố Hà Nội. Hiện ngôi nhà này được vẫn khóa kín cửa. Theo một số hàng xóm, gia đình ông Nghiên đã dọn đi. Một cán bộ thuộc Công ty quản lý và kinh doanh nhà HN cho biết, đơn vị này đã trình các phương án bố trí nhà ở cho các cựu lãnh đạo thành phố là ông Hoàng Văn Nghiên và ông Phan Văn Vượng. Đó là căn hộ tại chung cư Kim Liên hoặc nhà chia lô tại khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính”. e/ “QUAN ĐÁNH LỪA DÂN”: Gần 5 năm sau, báo cho biết: Ông cựu chủ tịch Hà Nội vẫn ở nguyên công thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa: Báo dantri.com.vn ngày 07/9/2011: 5 năm chưa tìm ra nhà cho cựu chủ tịch Hà Nội: Một lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết như vậy khi đề cập hướng xử lý đối với biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa (quận Hoàn Kiếm), do ông Hoàng Văn Nghiên – cựu chủ tịch UBND TP Hà Nội – hiện đang thuê ở”. Mặc dù trước đây 5 năm, TIN 247.com ngày 12/02/2007 đã đưa tin: “Ông Nghiên đã trả lại biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa cho cơ quan quản lý nhà của thành phố theo quyết định thu hồi của UBND thành phố Hà Nội. Hiện ngôi nhà này được vẫn khóa kín cửa. Theo một số hàng xóm, gia đìnhông Nghiên đã dọn đi”!!!

&&&

THÌ RA, VIỆC THU HỒI NHÀ QUAN KHÓ ĐẾN VẬY! THÌ RA CHÍNH QUYỀN HÀ NỘI CƯ XỬ VỚI NGƯỜI “DÂN” H.V.NGHIÊN CŨNG “CÓ TÌNH, CÓ NGHĨA” LẮM ĐẤY CHỨ. GẦN 5 NĂM CHO 1 VỤ THU HỒI TÀI SẢN CÔNG CHƯA XONG, LÀ MỘT BIỂU HIỆN HÙNG HỒN, ĐÚNG KHÔNG? ĐÂU CÓ “CẠN TÀU, RÁO MÁNG”, PHI LUẬT PHÁP, PHI ĐẠO LÝ NHƯ CHÍNH QUYỀN HẢI PHÒNG ĐÃ CHỈ ĐẠO CẤP DƯỚI TIẾN HÀNH ĐỐI VỚI VIỆC THU HỒI ĐẦM THỦY SẢN CỦA HỌ HÀNG NHÀ ANH VƯƠN – MỘT NGƯỜI DÂN VỚI ĐÚNG NGHĨA 100% DÂN! THÌ RA, CÁCH HÀNH XỬ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỐI VỚI DÂN THƯỜNG VÀ NGƯỜI “DÂN” ĐÃ TỪNG LÀM “QUAN” ĐÂU CÓ GIỐNG NHAU? THÌ RA, CÂU NÓI “MỌI NGƯỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT”, CHỈ LÀ “LÝ THUYẾT SUÔNG”?

*****

BÁN DÂM và THAM NHŨNG

Nhiều tháng liền, báo chí cứ ầm ĩ đưa tin về mấy vụ BÁN DÂM của một số “chân dài, hoa hậu, người mẫu”. Làm như vừa “phát hiện” ra một chuyện tầy đình ảnh hưởng lớn tới sự an nguy quốc gia! Việc bán dâm như thế đúng là sự suy đồi trong lối sống của một bộ phận chị em, những phụ nữ xinh đẹp và nổi tiếng. Xinh đẹp, nổi tiếng mà vẫn sẵn sàng bán đi cái phẩm hạnh của mình, cái “đáng giá ngàn vàng”, để mua vui một lát cho các đại gia lắm tiền, nhiều của, rửng mỡ, hám sắc dục. Thật xấu xa, đồi trụy, đáng lên án, mà…  cũng đáng thương!

 

Nhưng, việc “bán dâm”, suy cho cùng, là việc chị em BÁN CÁI CỦA CHỊ EM (còn có những tên gọi rất mỹ miều là “hoa”, là “bướm”!), một thứ hàng hóa hoàn toàn là CỦA RIÊNG, như dân gian thường nói: “vốn tự có” (cha mẹ sinh ra đã có, Trời ban cho mà chị em có) – không động đến một đồng TIỀN THUẾ của dân, của nước. Là món hàng được cất kĩ, che giấu kín, nhưng không phải HÀNG LẬU, càng không phải HÀNG QUỐC CẤM. Hoàn toàn không phải là CỦA CÔNG hay TÀI SẢN TẬP THỂ (ngay cả khi chị em đã đem nó bán cho rất nhiều khách mua dâm!). Người có quyền lợi liên đới duy nhất trong chuyện này, có lẽ chỉ là đức lang quân của chị em, nếu chị em đó đã lập gia đình. Điều này khác hoàn toàn với THAM NHŨNG. Bọn tham nhũng là bọn không mất một cái gì của riêng chúng, nhưng được thì được vô kể. Hàng trăm tỉ, thậm chí hàng nghìn tỉ công quỹ chứ đâu vài nghìn đô-la bọ?

 

Bán cái ‘tự có” của mình, chị em được vài nghìn đô-la (báo chí nói vậy). Như thế là “đắt”, là “phải giá” hay “rẻ”? Điều đó thuộc vấn đề “thuận mua vừa bán” theo đúng nguyên lý quan trọng nhất của kinh tế thị trường. Nên trong cái  chuyện mua bán ấy, nếu bán “hớ” thì thiệt vào bản thân chị em và bán được giá hời, thì cũng chỉ lợi cho bản thân chị em mà thôi. Chả ảnh hưởng gì đến một ai cả! Về điểm này, bọn tham nhũng rất giống chị em bán dâm: Đó là họ cũng bán cái “tự có” của họ, của mỗi con người – không phải cái… “nghìn vàng” mà là LƯƠNG TÂM (cho nên, “quan tham” chả bao giờ lại có lương tâm cả, mà đã không có lương tâm (hay tâm không lương thiện, hay táng tận lương tâm) thì dùng biện pháp “phê bình, tự phê bình” là không đủ sức răn đe, ngăn chặn.

 

Nói “lương tâm là cái tự có” của mỗi con người là có căn cứ, bởi “nhân chi sơ tính bản thiện”. Chỉ trở thành kẻ tàn ác, kẻ “máu lạnh”, kẻ cướp mồ hôi xương máu của đồng loại… khi lương tâm kẻ ấy – như dân gian thường nói: “đã bán cho quỷ sứ”. Và bán với giá rất hời, cái giá có thể nuôi sống mấy mươi đời nhà tham!

 

GÁI BÁN DÂM và QUAN THAM còn giống nhau ở điểm: Rất hiểu chữ “thời” và rất biết tận dụng nó. Bởi “quan nhất thời” và “xuân có thì”. Điếm già khó bán dâm, bán được thì giá cũng “bèo”; quan về hưu, môi trường tham cũng hạn chế, chả khác gì điếm già.

 

“Đánh đĩ chín phương cũng phải giữ một phương lấy chồng” – các Cụ xưa nhận xét về chị em bán “hoa” thế. Quan tham thì không. Mười phương, chúng vơ cả mười một!

 

Báo chí có một sự thiên lệch khi đưa tin là chỉ nói đến kẻ BÁN DÂM, ít nói đến người MUA DÂM. Hầu như chỉ thấy hình ảnh chị em bán dâm trên mặt báo, mặt ti-vi, chứ chưa thấy mặt bọn mua dâm. Một câu hỏi được đặt ra là  “AI MUA DÂM”, “ĐỐI TƯỢNG NÀO MUA DÂM” khiến báo chí phải né tránh như vậy? Anh công nhân, anh nông dân hay cả anh trí thức quèn nữa, dù có “thèm muốn” đến mấy, cũng phải “nhịn”, chứ lương không đủ ăn hoặc dư thừa chút đỉnh, thì lấy đâu ra số tiền hàng nghìn đô-la để “mua” của chị em với giá như thế? Vậy hoàn toàn có thể khẳng định: bọn người “mua dâm” phải và chỉ là những kẻ “ngồi trên đống tiền”, bọn “coi tiền như rác”, bọn “ho ra bạc, khạc ra tiền”, bọn chuyên tiêu “tiền chùa”, sẵn sàng “đốt” tiền vào mọi cuộc trác táng mà không hề sợ khuynh gia bại sản! Bọn này với bọn tham nhũng là một. Hoặc nó là con cháu bọn quan tham, hoặc nó chính là quan tham.

 

Có một thực tế cần nói là: Từ cô gái bán dâm mạt hạng, được vài chục nghìn đồng mỗi lần “đi” khách, đến các “hoa hậu, người mẫu” bán sự nổi tiếng của bản thân lấy vài nghìn đô, đều biết cúi gầm mặt xuống trước ống kính phóng viên. Trái lại, bọn quan tham chưa một tên nào biết xấu hổ, biết che cái bộ mặt thất nhân thất đức của chúng trước bàn dân thiên hạ. Nhiều tên còn thường xuyên nhơn nhơn chiềng cái mặt đáng phỉ nhổ của nó trên màn hình ti-vi mỗi ngày. Thế cho nên trong dân gian mới có câu: “Trông mặt, tắt ti-vi”! Nhưng nghĩ kĩ lại, chị em bán dâm cũng thật dại khờ. Vội gì mà khi bị phát hiện lại đi nhận ngay là BÁN, trong khi hoàn toàn có thể khai là CHO? “Cho” thì làm sao bắt tội. Về điểm này, quan tham khôn ngoan hơn chị em nhiều. Thứ nhất là khi bị tố giác, họ chối phăng và còn lớn tiếng đe dọa kẻ tố cáo nữa. Ngay khi bị bắt quả tang, bằng chứng dành dành, họ vẫn “chạy” các “cửa” để thoát tội. Thậm chí khi hết đường “chạy”, đã có lệnh tống giam, họ vẫn kịp “trốn” thoát để khỏi vào “bóc lịch” trong “nhà đá”! Chị em mà biết dùng chính cái tự có của mình ấy mà “chạy”, thì …

 

***

Gái bán dâm thời nào cũng có. Cứ “có cầu tất có cung”. Quan tham cũng vậy, thời phong kiến, tư bản hay XHCN đều có. Cứ quản lý lỏng lẻo là nảy lòng tham, là từ người cách mạng trở thành quan tham! Quan tham thì càng tham càng giầu sang (cả giầu lẫn sang). Lỡ bị phát hiện thì có bao nhiêu thế lực bao che – kể cả báo chí. Nếu lỡ bị  xử tù, thì loại tù nhân này cũng đàng hoàng béo tốt, chứ không “thân tàn ma dại” như bọn ăn cặp vặt, bọn trộm đêm. Gái bán dâm chỉ là kẻ “bán trôn nuôi miệng”, chẳng thể giầu và cũng chẳng thể sang! Đĩ” có tàn có tán” như chị Tư Hồng thuở xưa, cũng không thể bén gót lũ quan tham ngày nay. Bỗng nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu, nhà – thơ – lãnh – tụ nổi tiếng một thời, mà thương cho phận “hoa hậu người mẫu” bán dâm thời nay:

Trên dòng Hương Giang Em buông mái chèo…”

 

*****

 

CƠ QUAN CHỐNG THAM NHŨNG NÊN ĐẶT Ở ĐÂU?

Mới đây, ngày 11/5/2012, khi được phóng viên báo Đại Đoàn Kết hỏi: “Xin ông cho biết, quan điểm của cá nhân ông về mô hình tổ chức về phòng chống tham nhũng (PCTN) hiện nay?”, Viện sĩ Trương Công Phú, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Kinh tế – UBTƯMTTQ Việt Nam trả lời: “Các vụ tham nhũng tiêu cực thường xảy ra ở cơ quan Hành pháp là nhiều hơn. Ở các cơ quan Tư pháp cũng có nhưng ít hơn, còn ở cơ quan Lập pháp là ít nhất. Vì thế theo tôi nên để Quốc hội quản lý vấn đề phòng phòng tham nhũng. Và quan điểm của tôi là nên có một Ban có bộ máy giúp việc hoàn toàn độc lập nhưng trực tiếp phải do Chủ tịch Quốc hội phụ trách, hoặc là do một đồng chí trong Quốc hội có chức danh là Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách Ban này. Ban có bộ máy giúp việc hoàn toàn độc lập có nghĩa là các thành viên trong Chính phủ hay cơ quan Tư pháp không là thành viên trong Ban này để phòng chống tham nhũng được khách quan hơn” (http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/daidoanket.vn/Phu-trach-bo-may-chong-tham-nhung-nen-la-Chu-tich-Quoc-hoi/8445472.epi ). Tiếp đó, các cụ Lảo thành Cách mạng CLB Thăng Long (Hà Nội), nơi sinh hoạt của 1600 cán bộ hưu trí , nguyên là các cán bộ trung cao cấp ở các cơ quan Trung ương và Hà Nội nêu ý kiến: “…  cần thành lập Ủy ban đặc trách PCTN quốc gia, độc lập với cơ quan Nhà nước, có quyền hạn và trách nhiệm cao, có hệ thống tập trung thống nhất ở Trung ương và các khu vực ” (http://daidoanket.vn/Index.aspx?Menu=1390&chitiet=50179&Style=1). Về vấn đề này, chúng ta còn nhớ: Vào năm 2005, khi Quốc Hội (Khóa XI, kỳ họp 8) chuẩn bị thông qua “LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG”, có Đại biểu đã đặt vấn đề không nên để Ban Phòng chống tha nhũng (PCTN) trực thuộc Chính phủ. Nhưng ông Chủ tịch QH lúc đó đã bài bác bằng luận cứ: “Đã giao CP chân ga thì phải giao luôn chân phanh”. Luận cứ đó thoáng nghe có vẻ dân dã và hợp lý lắm! Vâng, đã là một cỗ xe hoàn chỉnh thì phải có đủ “chân ga”, “chân phanh”; nhưng người ta đã quên rằng (thực ra là đã cố tình quên), thực tế cho thấy: bên cạnh rất nhiều lái xe khi đến ngã tư, ngã ba đều nghiêm chình chấp hành hiệu lệnh chỉ huy giao thông, những cũng không ít kẻ dù thấy đèn đỏ, họ vẫn “quên” chân phanh, chỉ dùng mỗi “chân ga” để vượt lên trước. Do đó, phải cần đến Cảnh sát (độc lập với người lái xe) trông coi việc thi hành pháp luật của các đối tượng tham gia giao thông, xử phạt những kẻ không chấp hành. Do ý kiến chỉ đạo “Đã giao CP chân ga thì phải giao luôn chân phanh” như vậy, nên cuối cùng, điều 73 Luật PCTN đã được thông qua:

&&&

Đến nay, Đảng quyết định đưa Ban PCTN về trực thuộc Bộ Chính trị, đã phần nào chứng minh cho điều “không nên vừa đá bóng vừa thổi còi” là hoàn toàn đúng đắn. Chỉ tiếc rằng, một chân lý đơn giản, dễ hiểu, dễ thấy như vậy, mà phải mất tới 7 năm (2005 – 2012) mới được công nhận! Tuy vậy, quan điểm của các Cụ CLB Thăng Long: “…  cần thành lập Ủy ban đặc trách PCTN quốc gia, độc lập với cơ quan Nhà nước, có quyền hạn và trách nhiệm cao, có hệ thống tập trung thống nhất ở Trung ương và các khu vực”, vẫn cần được nghiên cứu. Bởi Đảng vốn xưa nay chỉ lãnh đạo bằng CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, Đảng không LÀM THAY, Đảng không phải là cơ quan HÀNH PHÁP, mà Ban PCTN dứt khoát phải là một Tổ chức có đầy đủ quyền lực pháp quyền, mới có hy vọng chống được bè lũ quan tham – GIẶC NỘI XÂM!..

*****

PHÒNG hay CHỐNG?

Người Việt Nam mình thường có tính CẢ NỂ. Vì cả nể nên hay NÉ TRÁNH, ngại đụng chạm những vấn đề gọi là “nhạy cảm”. Nạn THAM NHŨNG là một trong số những vấn đề đó. Cho nên lâu nay, mỗi khi bàn về THAM NHŨNG, người ta cứ băn khoăn nên đặt vấn đề CHỐNG trước hay PHÒNG trước, tức có nghĩa là nên coi trọng CHỐNG hay coi trọng PHÒNG? Nếu coi trọng “chống” thì liệu có mất lập trường, có “nhìn” đời tối quá không; thậm chí không khéo lại rơi vào âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch, thì nguy. Có một thực tế là: Kết quả thảo luận – ở cấp nào cũng vậy, thường phụ thuộc rất nhiều vào vai trò “người cầm cân nảy mực”, về cả trí tuệ lẫn ý chí. Và cuộc thảo luận xây dựng luật về tham nhũng ở Quốc hội (khóa XI), cũng chung số phận ấy. Nhiều đại biểu bàn cãi mãi, nhưng cuối cùng thỏa hiệp bằng cụm từ khá êm tai, vừa lòng nhiều người: “LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”! Quyết định như thế, người ta đã “quên” rằng, sinh thời Bác Hồ hầu như chỉ dùng từ CHỐNG THAM NHŨNG, chứ ít dùng từ PHÒNG – mặc dù thời ấy, nạn tham nhũng chưa đến nỗi tệ hại và nguy hiểm như ngày nay. Người nhận định: ““Vì những người và cơ quan mắc bệnh quan liêu nên có mắt mà không thấy suốt, có tai mà mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém, tha hồ tham ô lãng phí”( Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, T6. Tr 490).  Và: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là bạn đồng minh của thực dân phong kiến, nó là kẻ thù của chúng ta, một loại kẻ thù không mang gươm súng nhưng rất nguy hiểm. Vì vậy, chống tham ô, lãng phí và quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc ngoài mặt trận”( Hồ Chí minh, thực hành tiết kiệm và chống thanm ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, Nxb sự thật, Hà Nội 1981, tr 4.) – Lưu ý là, không phải sau này mà ngay thời ấy Bác đã coi THAM NHŨNG như GIẶC, ĐÁNH THAM NHŨNG như ĐÁNH GIẶC. Và: “Đảng ta luôn luôn kêu gọi toàn thể cán bộ, Đảng viên, đoàn viên Thanh niên và nhân dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và chống tham, ô lãng phí, quan liêu…cho nên từ nay, chúng ta bắt đầu mở cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan lieu( Sđd). Kiên quyết không chỉ trong cách NHÌN NHẬN vấn đề, Người còn kiên quyết cả trong BIỆN PHÁP hành xử: Ngay khi dành được chính quyền chưa bao lâu, ngày 23/11/1946 Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 64 về việc thành lập Ban thanh tra đặc biệt, sắc lệnh này quy định Ban có quyền “đình chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay của Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng chính phủ hay tòa án đặc biệt xét xử”. Không chỉ kiên quyết trong biện pháp, Người còn kiên quyết trong HÀNH ĐỘNG: Vụ án Trần Dụ Châu trong Kháng chiến là một ví dụ. Rất tiếc, chính thời chúng ta đang sống đây, mới hữu khuynh cả trong nhận định lẫn biện pháp và cách làm khi không chỉ ra được mục tiêu quyết liệt lúc này, lúc mà “Tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, gây bất bình, làm giảm lòng tin trong nhân dân”( Văn kiện đại hội lần thứ VIII của Đảng Nxb CTQG, Hà Nội 2001)”; lúc mà nạn THAM NHŨNG đã làm suy yếu lòng tin của Dân đối với Đảng, đối với Chế độ, đe dọa sự tồn vong của Chế độ (báo sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) gửi đến kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII) – Nạn tham nhũng không còn là chuyện PHÒNG nữa bởi nó đã hiển hiện rõ mồn một ở tất cả mọi ngóc ngách cuộc sống, có mặt ở khắp mọi hoạt động kinh tế, xã hội… cho nên vấn đề phải là CHỐNG, lấy CHỐNG làm BIỆN PHÁP hàng đầu chứ không phải là PHÒNG, CHỐNG QUYẾT LIỆT như CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM, đúng như nội dung các NGHỊ QUYẾT của Đảng! Vâng! Để nghị quyết TW 5 phát huy hiệu quả, thiết nghĩ, cần sớm thay cụm từ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG bằng cụm từ CHỐNG THAM NHŨNG, trong ngôn từ cũng như trong văn bản pháp quy. Đấy cũng chính là TRỞ LẠI VỚI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, HỌC TẬP ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH.

*****

HỌC LÀM DÂN

Học làm Quan khó. Học làm Dân khó hơn. Không tin điều đó, chỉ có người sinh ra chưa hề làm Dân – Họ là những con Vua, con Chúa, con Quan, từ tấm bé chỉ biết sống trong môi trường Vua – Quan.

HỌC LÀM DÂN khó, trước hết là học cách chịu đựng, cách nhịn nhục, vì đấy là tầng lớp có đẳng cấp thấp nhất trong xã hội – một tầng lớp bị cai trị chứ không cai trị ai; một tầng lớp chỉ biết chấp hànhđề đạt nguyện vọng, chứ không bao giờ được ra lệnh. Nguyện vọng cũng không mấy khi được đề đạt trực tiếp mà thường phải thông qua người đại diện (Đại biểu Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân). Thông qua “người đại diện” cũng không phải chuyện dễ, mặc dù người đó do chính họ lựa chọn bầu lên – bởi họ chỉ có thực quyền với “người đại diện” trong mỗi lần duy nhất là khi cầm lá phiếu bầu, bỏ vào thùng phiếu, còn sau đó, ngay cả chuyện muốn được dự các cuộc “tiếp xúc cử tri” của “người đại diện” ấy cũng đâu có dễ? Vậy cho nên thi thoảng lại có chuyện “Dân phải đội đơn” kêu cầu, đội đơn dâng lên chính người trước kia họ tin tưởng bỏ phiếu bầu làm đại diện quyền lợi cho mình!

LÀM DÂN khó, vì đấy là tầng lớp có thu nhập thấp nhất nhưng lại là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xả hội, từ hạt thóc, củ khoai, mớ rau… đến những đồ dùng thường nhật và công cụ sản xuất trong mọi lĩnh vực – mặc dù Quan từng nói “Khổ trước Dân và sướng sau Dân”, nhưng thực tế chưa mấy khi Dân được “sướng trước Quan và khổ sau Quan” cả, kể cả trong mơ! LÀM DÂN khó, vì DÂN LÀ GỐC, mà đã là “gốc” thì, lao động âm thầm hút chất dinh dưỡng từ trong lòng đất lên nuôi ngọn, là hoạt động đặc trưng chứ không phải hưởng thụ. Lao động là hành vi hoàn toàn mang tính tự giác, tự nguyện đối với Dân. Lao động không ngơi nghỉ, không bó hẹp trong 8 giờ một ngày, không phân biệt đêm hay ngày, ngày thường hay ngày chủ nhật… Thời gian của Dân quy ra lượng mồ hôi, quy ra lực cơ bắp, quy ra đồng tiền họ nhận được để nuôi sống gia đình. Với Quan thì bất cứ thời gian nào cũng là “vàng ngọc” – vàng ngọc theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen!

LÀM DÂN khó, vì Dân mà sống lươn lẹo, trác táng… thì sẽ bi chính cộng đồng dân xa lánh, hắt hủi – kể cả khi anh ta trác táng bằng gia sản nhà anh ta. Còn nếu dân làm việc phi pháp sẽ bị quan cho đi tù, thậm chí tước mạng sống. Ngược lại, Quan thì không. Quan  trác táng bằng “tiền chùa”, mà ít ai phê bình được Quan. Quan làm thất thoát công quỹ “tiền tấn”, nếu bị dân phanh phui, chỉ cần tuyên bố “rút kinh nghiệm sâu sắc” hoặc “nghiêm khắc kiểm điểm”, là xong… Dân ăn trộm một con chó, bị chính dân bao vậy đập chết (DÂN VÂY ĐÁNH CHẾT KẺ TRỘM CHÓ). Quan tham ô bạc tỉ, chưa thấy quan nào phải treo cổ?

LÀM DÂN khó, nên con em Dân chỉ chăm chăm tìm cách thoát khỏi kiếp làm Dân để leo lên cuộc đời làm Quan – không hề có trường hợp ngược lai! LÀM DÂN khó, nên có nhiều người sau khi leo được vào hàng ngũ quan lại, dù chỉ là chức quan thấp nhất, cũng muốn quên đi nhanh chóng quá khứ làm Dân của mình, ngại giao du với bạn bè thời “áo cộc” và học đòi rất nhanh thói sống hãnh tiến của tầng lớp trên!

LÀM DÂN khó, nên nhiều Quan cứ phải lắng nghe dân, phải “ba cùng – cùng ăn, cùng ở, cùng làm” để hiểu Dân, để điều chỉnh chính sách, công việc của mình. Đáng tiếc, cũng không có trường hợp ngược lại: Dân “ba cùng” với Quan!

LÀM DÂN khó, trở lại làm Dân còn khó hơn. Khó đến mức nhiều Quan, nghỉ hưu lâu rồi, vẫn không sao hòa nhập được vào cuộc sống người Dân, không nói được tiếng nói của Dân, không nghĩ  được điều Dân suy nghĩ; không sống đúng cuộc sống của người đã nghỉ hưu, vẫn sống như kẻ mộng du trong cái thời đương chức đầy vàng son, vẫn sống xa hoa trong các “tháp ngà” cách bức với dân; vẫn hàng ngày mơ màng nhấm nháp cái vị vinh quang ngọt ngào của một thời đã qua. Và chính vì vậy mà có những vị, khi về tham gia các hoạt động xã hội với dân, như họp Tổ dân phố chẳng hạn, đã không được dân chấp nhận – tẩy chay, cứ ngồi vào hàng ghế nào, thì những người ngồi trước, lần lượt đứng lên, chuyển sang chỗ khác! Nói thế không có ý phủ nhận thực trạng vẫn có những “Quan”, khi đang chức vì lý do này lý do khác, đã không thấy, không hiểu cuộc sống, suy nghĩ, nguyện vọng của Dân; nhưng khi về hưu tỉnh ngộ ra, nhận thức ra. Dẫn đến tình trạng, khi đang chức không nói, hoặc nói khác, nhưng khi về hưu lại nói hoặc nói hoàn toàn ngược lại. Sự thay đổi cách nói này không đáng trách, không nên trách*, trừ phi sự thay đổi đó không do thay đổi nhận thức, mà do lối sống cơ hội! Nhưng, suy cho cùng, Dân cũng có cái sung sướng của Dân. Ví như về chuyện chơi bời, thăm viếng nhau, hoàn toàn tự do, muốn đi lúc nào thì đi, muốn tụ bạ lúc nào thì tụ bạ. Rượu vào rồi thì cái gan to bằng cái trống cái treo đình làng, ăn nói văng mạng… đến Quan đôi khi cũng ngại. Quan thì không, bởi vì Quan vướng chuyện “bề trên trông xuống, người ta trông vào”! Dân còn sung sướng ở chỗ suốt đời là Dân. Khi còn trẻ là Dân, về già vẫn là Dân, đến lúc chết vẫn là Dân. Hiện tại là Dân, quá khứ cũng là Dân. Cho nên không bao giờ phải dùng kèm chữ NGUYÊN hay CỰU đằng trước chữ Dân. Thế là cuộc đời luôn thảnh thơi. Điều ấy thì Quan không thể có! Chả thế mà nhà thơ Nguyên Long đã phải thốt lên “VÔ TƯ MẤY KIẾP MỚI THÀNH THƯỜNG DÂN”! Đấy mới chỉ là “mức phấn đấu” để thành “THƯỜNG DÂN”, còn nếu để thành “PHÓ THƯỜNG DÂN”, liệu phải phấn đấu “vô tư” đến bao nhiêu kiếp, thưa nhà thơ Nguyên Long?!.

—————

(*)Về vấn đề này, trong lần trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 09/7/2012, khi được hỏi: “So với thời kỳ ông tham gia lãnh đạo Chính phủ, dường như hiện nay ông đã có suy nghĩ thoáng hơn?” ông Vũ Khoan, nguyên phó thủ tướng đã nói: “Vạn vật biến động không ngừng. Thời điểm tôi làm trong Chính phủ chưa vấp phải lạm phát cao, sự phát triển kinh tế tuy ẩn chứa nhiều khiếm khuyết nhưng tương đối ổn định, nay tình hình có khác. Chúng ta đang chứng kiến nhiều sự đổi thay khách quan cả ở trong lẫn ngoài nước, nhận thức con người cũng không đứng yên, có thể trước kia chỉ nhận thức được đến đó thôi, nay nhận thức rõ thêm. Vả lại trước kia “làm quan”, dù muốn hay không người dân cũng khó bộc bạch hết nỗi lòng với mình nên không thể biết hết được.Khi về “làm dân”, có thể tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nên nghe được tiếng nói thật lòng. Có ba yếu tố khách quan như vậy chứ không phải khi về nghỉ rồi thì “đổi gió”, “đổi cờ” gì đâu” (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/500849/Lam-dan-moi-duoc-nghe-that-long.html).

 ***

 

HỌC LÀM QUAN

Xưa Bác Hồ dạy: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Ðối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”. (Toàn tập, ST, 1987, T7, trang 482). Vâng lời Bác hôm nay cháu xin lạm bàn một chút về cái ĐẠO LÀM QUAN.

***

Vua chúa xưa, tiếng là “Cha truyền con nối”, “con vua lại làm vua”; nhưng để trở thành người kế vị vua cha, các hoàng tử phải trải qua rất nhiều khâu rèn luyện, thử thách. Vua chúa nào cũng coi trọng việc dạy bảo các hoàng tử. Những thày giáo tuyển vào cung đều là những vị học rộng và đức cao, mẫu mực trong thiên hạ. Nên rất nhiều vua kế vị, dù tuổi rất trẻ nhưng đã vận hành bộ máy quyền lực một cách trôi chảy, đúng đạo, hợp lý, hợp lòng dân, giữ gìn được vị thế Quốc gia, được các đại thần và bách quan quy phục, khiến ngoại bang kính nể. Vua Duy Tân là một điển hình gần nhất: Người Pháp sau khi phế truất vua cha, đã chọn đưa hoàng tử thứ 8 Nguyễn Phúc Vĩnh San lên nối ngôi (lúc ấy ngài mới 8 tuổi – thực chất là 7 tuổi) với hy vọng rằng ngài quá trẻ, họ sẽ dễ sai khiến. Nhưng chỉ một ngày sau khi lên ngôi, Duy Tân đã thể hiện phẩm chất của mình khiến nhà báo Pháp phải thốt lên: “.Un jour de trône a complètement changé la figure d’un enfant de 8 ans” (Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên tám” (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vàng ráo riết. Mahé lấy tượng vàng đúc từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức và đào xới lung tung trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó, nhưng Mahé vẫn làm ngơ. Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Toà Khâm sứ Pháp làm áp lực với nhà vua thì Duy Tân đe đọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế lúc bấy giờ. Cuối cùng Toàn quyền Albert Pierre Sarraut từ Hà Nội phải vào giải quyết vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành. Không chỉ có thế, năm vua Duy Tân 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký. Nhà vua cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau nên một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre). Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Rõ ràng, nếu không được học tập chu đáo, vị vua trẻ Duy Tân không thể có những suy nghĩ và hành động tuyệt vời như vậy.

***

Thời phong kiến, chỉ có VUA CHÚA mới “Cha truyền con nối”, các QUAN thì không. Sau cách mạng tháng 8, người làm việc nhà nước, không gọi là “quan” mà gọi là “CÁN BỘ”. Thời kỳ đầu, cán bộ gần dân, “từ nhân dân mà ra, được dân mến, được dân tin muôn phần – lời một bài hát phổ biến một thời”. Chức tước của cán bộ là do “học tập, rèn luyện, phấn đấu” mà trưởng thành; đồng thời phải do “Tổ chức phân công”. Gần đây, một “bộ phận không nhỏ” cán bộ đã tha hóa biến chất và được dân gọi mỉa là “QUAN CÁCH MẠNG”! Càng ngày quan cách mạng càng có xu hướng “cha truyền con nối”. “HỌC” không còn là tác nhân chính giúp người ta trở thành QUAN! Bởi thế, lúc này mới đem chuyện HỌC LÀM QUAN ra bàn. HỌC LÀM QUAN, có nghĩa là học CÁCH LÀM QUAN. Nhưng trước cả điều đó, lại phải học tốt hai điều quan trọng sau: Thứ nhất phải HỌC LÀM DÂN, thứ hai phải thực sự SỐNG CUỘC SỐNG CỦA DÂN. “Học làm dân” để thấy làm dân khó thế nào, để rèn đức tính “chí công vô tư” và còn để ghi khắc vào tim chân lý “Quan nhất thời, Dân vạn đại”; “Sống cuộc sống của dân” để thông cảm với những nỗi cơ cực hàng ngày của dân, để rèn đức tính “cần kiệm liêm chính”, để biết dân cần gì, dân trông đợi gì, dân ghét bỏ gì và điều gì làm dân phẫn nộ. Học tốt hai vấn đề đó, khi làm quan mới thấy được đầy đủ ý nghĩa câu “DÂN LÀ GỐC”, mới biết phải làm gì cho dân thực sự làm chủ, thực sự tự do, thực sự hạnh phúc… Không học làm Quan, hoặc học chưa đến nơi đến chốn, nên nhiều ông “Quan cách mạng” hành xử chưa tương xứng với chức trách. Xin đơn cử một vài ví dụ: Đã có ông cán bộ lãnh đạo đầu tỉnh, khi được thuộc cấp dẫn xem Bảo tàng địa phương. Lúc ngài đến phòng trưng bầy lưu niệm Bác, đã thò tay nhặt chiếc gối lên ngó nghiêng –một hành vi ngây ngô lại vi phạm nội quy Bảo tàng. Chưa xong, lát sau, đáng phải dùng hai tay đặt hiện vật lại đúng vị trí, thì ông này lại quăng chiếc gối của Bác xuống giường! Thật thô lỗ và vô phép. Khi Truyền hình địa phương đưa hình ảnh ấy lên, dân chúng và các vị lão thành lắc đầu chê “lấc cấc”. Lỗi của “quan” này là trước đó không rèn tư chất người cán bộ, vẫn mang theo tính cách thô lỗ của mình thời trai trẻ. Lại có ông, thăng quan tiến chức liên tục, nhưng cuối đời nhìn lại chả vị trí công tác nào để lại chút “dấu ấn” gì. Hoàn toàn làm theo sự chỉ đạo của trên và quyết định của tập thể (không sai, nhưng đạo làm quan mà chỉ có thế thì nói như một vị Đại biểu Quốc hội khóa hiện hành: “Ai chả làm được”!). Ông này luôn thăng tiến vì ở vị trí nào ông cũng chẳng mắc tai tiếng, chẳng có đơn thư tố cáo… lại được đồng chức đồng đội tín nhiệm (về điểm “tín nhiệm” này thì cũng lại xin thưa, chính cuối đời ông cũng có lần “khiêm tốn” bộc bạch: “Mình lên được không phải vì giỏi hơn các anh ấy, mà vì được lòng các anh ấy. Nhất là khi nội bộ các anh có mâu thuẫn, thì việc đưa mình lên là thuận cho đoàn kết tất cả các bên!” – có thể hiểu là khi có nhiều phe, thì kẻ không thuộc phe nào lại “dễ bảo”, thì dễ được các phe ủng hộ). Đây là mẫu “Quan” gặp vận, gặp thời, lại rất biết tận dụng cái “vận”, cái “thời” ấy để “phấn đấu” đi lên. Gọi chung là QUAN CƠ HỘI. Loại này đa số không có tài cán gì, nhưng cá biệt vẫn có kẻ xuất chúng. Xếp cùng loại với thứ “quan” này, là thứ QUAN MUA. Thời xưa cũng có chuyện “mua bán chức quan”, nhưng thường chỉ là dân làng tự “bán” để lấy tiền dùng cho việc làng. Và chức cao nhất chỉ là LÝ TRƯỞNG và để phân biệt chức LÝ TRƯỞNG do trên bổ nhiệm, dân làng đã cho thêm chữ “MUA”: LÝ TRƯỞNG MUA – chỉ có tiếng, không có thực quyền. Tuyệt đối không để lập lờ đánh lận con đen! Thời hiện tại, số “quan mua” khá phổ biến, việc “Chy chc chy tước” đã thành chuyện đương nhiên (ai nói “làm gì có?” chỉ là kẻ mù lòa hoặc giả mù lòa). QUAN MUA thời này có hai đặc điểm: Thứ nhất tuy không bị gắn chữ “MUA”, nhưng ai cũng ngầm hiểu người ấy là “quan mua”. Thứ hai, không chỉ có “tiếng” mà có cả “quyền”, cả “miếng”!  Người xưa dạy: “Y phc xng kỳ đc”, bây giờ cần thêm “Chc tước xng kỳ đc, tài”. Về chuyện đức-tài, cần kể chuyện này: Vừa rồi có ông Bộ trưởng trả lời chất vấn về vấn đề mình phụ trách mà cứ “lúng túng như thợ (may) vụng mất kim”, nói năng như “gà mắc tóc”! Lại có ông Bộ trưởng trả lời tỉnh queo: Những chuyện thua lỗ, thất thoát ấy… tôi không biết! Sao ông không tự hỏi trước khi trả lời: “Thế mình làm Bộ trưởng này để làm gì nhỉ?”. Ngày xưa đi làm việc ở các cơ quan nhà nước, tuy có kẻ thế này người thế kia, nhưng hầu hết chung một ý nghĩ: Đã là cán bộ cách mạng thì phải luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm chính. Ngày nay thì có vẻ khác, đi làm, vào biên chế xong là phải lo ngay đến “chạy chức chạy quyền”, để nhanh “vinh thân phì gia”. Trường hợp Bộ trưởng KH ĐT mới giãi bầy với QH rằng “làm Bộ trưởng không sướng gì, chẳng có đồng nào trong túi” (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/76418/-lam-bo-truong-khong-suong-gi–cha-co-dong-nao-trong-tui-.html), thì cũng lạ! Không biết ông nói về riêng mình hay nói thay các Bộ trưởng khác? Túi ông không có đồng nào (nghe tội quá!). Liệu có phải là do quý phu nhân quản chặt hay do lương và thu nhập của Bộ trưởng quá thấp, đi họp đi hành phải chi phí quá nhiều, chiêu đãi cấp dưới quá lớn? Giá Bộ trưởng giải thích rõ cho dân biết nhỉ. Chứ tình cảnh này không khéo mai kia không còn ai dám phấn đấu làm Bộ trưởng nữa mất! Có vị đề ra chính sách: Địa phương ta không được tuyển sinh viên tốt nghiệp đại học tại chức, nhưng là “đề ra” sau khi đã đưa “quý tử” mình vào biên chế đâu vào đấy rồi!  Về điểm này, cứ thử làm một cuộc điều tra nhanh, xem có bao nhiêu trường hợp con cháu các sếp lớn hiện thất nghiệp và nếu có thì tỉ lệ là bao nhiêu so với con em dân thường? – Không cần điều tra cũng có thể trả lời ngay: Không có những chuyện con các sếp lớn thất nghiệp đâu – trừ phi các công tử, công chúa mắc dị tật, bệnh hiểm nghèo, nghiện ngập hoặc quen ăn chơi trác táng! Đó có thể gọi là nạn “CON ÔNG CHÁU CHA”. Nạn này đang khá phổ biến, không phải ở đâu cao xa, mà ngay từ cấp xã phường! Ai cũng thấy những điều trái tai gai mắt ấy, có điều chả muốn nói ra thôi. Nạn “CON ÔNG CHÁU CHA” này đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp cho xã hội thêm những quan chức không nắm được công việc, chức trách; không biết làm việc. Cái ghế của các cán bộ này nhiều khi như chiếc “ghế phụ” bên cạnh “ghế chính” trong các toa xe đông hành khách. Về điểm này cũng nên nhắc lại tích xưa: Khi Trần Thủ Độ bị phu nhân hối thúc cất nhắc con cháu làm chức này chứ khác, ông trả lời: “Được, nhưng chúng sẽ phải chặt đi 1 ngón tay để phân biệt với người có tài có đức”! Quan đương chức ngày nay vẫn có nhiều người thực hiện được lời Bác dạy, luôn CHÍ CÔNG VÔ TƯ, luôn chăm lo giữ gìn ĐẠO ĐỨC CM. Nhưng MỘT BỘ PHẬN KHÔNG NHỎ đã trở thành sâu mọt, lo hoàn thành trách nhiệm thì ít, lo thu vén cá nhân thì nhiều. Bác dạy: “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (Toàn tập, ST, 1984, T4, trang 463). Nhưng họ không LÀM THEO mà chỉ NÓI THEO. Trung ương 4 đã có nghị quyết từ nửa năm nay rồi, nhưng dân mới chỉ thấy HỌP mà chưa thấy HÀNH. Ngân sách nhà nước mất hàng chục ngàn tỉ đồng mà chưa mấy ai làm sao, có quan vừa mới bị khởi tố thì đã trốn đâu mất tích, nhờ cả cảnh sát thế giới truy tìm vẫn chưa thấy!

***

HỌC LÀM QUAN – Chứ không phải “CHẠY” LÀM QUAN. Nhưng, hình như thời nay người ta chỉ thích CHẠY chứ không muốn HỌC?!.

*****

SỐ “0” VÀ SỐ “1”

Số “0” là số không có giá trị gì cả, dù cho có tập hợp cả ngàn, cả triệu, cả tỉ tỉ số không, vẫn thế mà thôi, nghĩa là vẫn không có chút giá trị gì! Nhưng đấy là lúc nó đứng ở vị trí đằng sau dấu phẩy hoặc trước số nguyên. Còn khi số ‘không” đứng vào vị trí ngược lại,thì vấn đề đã trở nên khác hẳn. Số không lúc này, càng có giá trị khi lực lượng càng đông. Đấy là điều các em lớp 1 cũng biết! Và có thể các em cũng biết điều này: Nếu không có số “0”, người ta không thể viết tiếp những số lớn hơn “9”!

Số “1” là số có giá trị thấp nhất trong 10 chữ số. Càng ít giá trị nếu nó lại đứng sau dấu phẩy.

Tương tự số “0”, số “1” cũng có những giá trị khác nhau, tùy trường hợp. Lớp một là lớp thấp nhất bậc tiểu học. Điểm một là số điểm thấp nhất (nếu như thày cô thương tình không đến nỗi hạ bút cho… “0,5” điểm!). Gió cấp 1 là gió có cường độ nhẹ nhất, muốn trở thành bão phải là gió cấp 8 cấp 9 trở lên. Nhưng xét học lực mà em nào xếp thứ nhất thì danh giá rồi – danh giá cho em, cho gia đình em, cho họ tộc em và cao nhất là cho Tổ quốc em nếu như em được xếp thứ nhất trong một cuộc thi Quốc tế! Trong cuộc sống, phần lớn cái gì đã được xếp hạng nhất, thì đều có giá trị, từ một cuộc thi thể thao (người ta còn gọi là “vô địch” – không có ai địch nổi), thi người đẹp, đến việc xếp hạng sản phẩm, doanh nghiệp, doanh nhân… Nhưng cũng có loại khi “được” xếp hạng nhất, lại làm cho người đời kinh tởm: Quan tham, côn đồ, đĩ điếm chẳng hạn.

Nhưng, suy tới cùng kỳ lý, thì con số dù lớn đến mấy, cũng đều có nguồn gốc từ số “0” và số “1”: Số “2” do hai số “1”, số “9” do chin số “1”, số “10” do số “1” và số “0” tạo thành… Cứ thế, dù anh có “vị thế” cỡ hàng tỉ tỉ… gì đi nữa, cái gốc của anh vẫn chỉ là số “0” và số “1” mà thôi!

Khi nói “vô (không) giá trị” thì có nghĩa chả có giá trị gì sất. Nhưng vẫn câu đó, nếu bỏ đi một (1) chữ “trị” thì lại có nghĩa hoàn toàn ngược lại: “vô giá”! “Không” và “một” lúc này có “giá” lắm đấy chứ!

Chỉ với sự sắp xếp huyền ảo những số “0” và số “1” trong hệ nhị phân, đã tạo nên sự bùng nổ cuộc CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, là một trong những tác nhân đã tạo nên diện mạo mới cho toàn cầu hóa, được gọi là “thế giới phẳng”, với vô vàn ứng dụng tuyệt vời phục vụ nhu cầu giao tiếp, nắm bắt thông tin, cập nhật trí thức… của con người: Từ điện thoại di động đến video, truyền hình đến các công cụ “tìm kiếm” và rất nhiều ứng dụng khác trên “mạng xã hội”.

&&&

          Con người ta luôn gắn liền cuộc đời với những con số: Mới sinh ra thì hồi hộp với những bước phát triển: “Ba tháng biết lẫy, bẩy tháng biết bò,..”. Đến tuổi đi học thì bắt đầu vật lộn với các phép tính về con số: “cộng, trừ, nhân, chia, đơn thức đa thức, đại số, khai căn,..”. Chết đi rồi, vẫn không rời con số: “Cúng 3 ngày, 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu, giỗ đoạn tang,..”. Con số được quan tâm sớm nhất có lẽ là số đếm của… đồng tiền: Có một đồng thì muốn có mười đồng, rồi lại muốn có trăm đồng, triệu đồng, tỉ đồng… Nhưng băn khoăn nhất của con người trưởng thành có lẽ là vấn đề mình đứng ở đâu trong đồng loại. Đứng trên mươi người, thì muốn đứng trên trăm người, rồi lại muốn đứng trên ngàn người, triệu người… Tham vọng này là không cùng, là “vô đáy”, là “không nhường ai”… Mặc dù hầu như ai cũng hiểu: “Khi chết, con người không mang theo bất cứ một cái gì, từ chức tước, tiền bạc, nhà lầu, xe hơi, vợ hiền hay gái đẹp…- tất cả chỉ còn là MỘT SỐ KHÔNG TRÒN TRĨNH mà thôi”.

Cổ nhân nói “Trâu chết để lại da, người chết để lại tiếng”. Cái “tiếng” ở đây có loại “thơm” và có loại… “không ngửi được”. Loại không ngửi được thì rõ ràng chết vẫn không yên!

Mỗi cá nhân chúng ta, xét đến cùng chỉ là con số “0” hoặc con số “1”, không hơn không kém, cho dù số phận và sự may rủi trong cuộc đời có tạo cho ai đó một cách sắp xếp tốt và lợi thế đến đâu! Không nên TỰ TI và cũng chớ quá TỰ HÀO! Những người chơi môn cờ tướng, không ai không thuộc câu thơ sau của Hồ Chủ Tịch: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”.  Còn với trò chơi tam cúc, khi quân tốt đứng lẻ chả làm nên cơm cháo gì, nhưng nếu là bộ đôi, bộ tư (tứ tử), nhất là bộ năm (ngũ tử) thì dù là tốt đỏ hay tốt đen đều quan trọng. Tứ tử thì dù không phải là cái, vẫn được trình làng, bắt các đối thủ phải chui; còn ngũ tử thì chủ ván bài có quyền giành làm cái (cướp cái), nếu vị trí đó đáng thuộc người khác!

Ca dao xưa có câu: “Hơn nhau tấm áo manh quần / Cởi ra mình trần ai cũng như ai”.

3/7/2012 – 11/7/2012.————–

CÁC QUAN TRẺ ĐANG LẤY DÂN LÀM GÔC

Kèo: – Hiện nay, Cột biết không, Dân chúng mình đang là CÁI GỐC cho một số Quan trẻ dựa vào đấy! Cột: – Ý cậu là… một số quan trẻ cũng đã biết lấy DÂN LÀM GỐC? Kèo: – Chứ sao! Cột: – Thế thì phúc lớn rồi!.. Nhưng Kèo căn cứ vào đâu mà nói thế? Kèo: – Thì căn cứ vào các việc Quan làm mà suy ra chứ còn căn cứ đâu nữa? Cột: – Căn cứ vào việc Quan làm là đúng, chứ căn cứ vào lời nói thì Dân ta quen nghe nhiều rồi. Nhưng tớ vẫn muốn biết cậu căn cứ vào những việc làm nào của Quan trẻ vậy? Kèo: – Thì ối ra đấy… Quan Giao thông khi thấy bí tiền trung đại tu các con đường, mà ngân sách Nhà nước lại có hạn, thì Quan nghĩ ngay đến… Dân. Cột: – Nghĩ thế nào? Kèo: – Huy động sức Dân. Cụ thể là mời Dân tham gia đóng góp xây dựng và nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông bằng cách nộp thêm một vài thứ thuế… Cột: – Tăng thêm thuế thì khổ cho Dân chứ sao lại bảo là dựa vào Dân? Kèo: – Nộp thuế là hành động yêu nước chứ sao lại khổ? Cậu phải xem lại cái “lập trường” của cậu đi! Cột: – “Nộp thuế là yêu nước”. Khẩu hiệu này thì biết rồi. Nhưng không vì thế mà cứ tìm cách moi tiền của Dân, chất gánh nặng thuế khóa lên vai Dân kiểu thế được. Nhất là khi nạn tham nhũng chưa ngăn chặn xuể, thì việc tăng cường đánh thuế vào dân là có tội với Dân với Nước đấy! Kèo: – Cậu này hôm nay có vẻ hăng… tiết vịt nhỉ?!. Nhưng mà sai toét cả rồi. Thuế là thuế, chống tham nhũng là chống tham nhũng, hai việc ấy hoàn toàn khác nhau. Không thể vì cái nọ mà không làm cái kia được. Cột: – Cậu lắm lý luận quá, nói năng hệt giọng sếp nhớn, không tranh cãi với cậu được… Thế còn những Quan trẻ nào dựa vào Dân nữa, cậu kể tiếp xem nào? Kèo: – Tiếp theo phải kể đến là Quan Y tế. Quan nữ này là người rất thương Dân nhé. Thứ nhất, một trong những phát ngôn quan trọng của Quan bà khi mới nhậm chức là câu: “Chưa thấy một quốc gia Đông Nam Á nào, kể cả ở châu Phi mà tình trạng các bệnh viện (BV) quá tải như tại VN” – Câu này mà từ miệng bọn mình, không khéo sẽ bị quy cho là “mắc miu giọng lưỡi phản động, bon diễn biến hòa bình” chứ chẳng chơi đâu! Nhưng Quan nói thì không sao. Câu phát ngôn đó chứng tỏ Quan bà đồng cảm với bệnh nhân và nhân dân ta như thế nào! Thứ hai là khi Quan bà đi vi hành “thị sát 3 bệnh viện lớn tại TP.HCM là Ung Bướu, Nhi Đồng 1 và Chấn thương chỉnh hình vào ngày 28/11/2011, Quan đã ”không khỏi bức xúc và đau lòng trước cảnh các bệnh nhân nằm chen chúc trên giường bệnh, chưa kể có người phải nằm đất[1]. Cột: – Rồi sau đó thì sao? Kèo: – Sau đó, Quan Y-tế đã lập tức đưa ra một LỘ TRÌNH TĂNG GIÁ VIÊN PHÍ. Nghĩa là y như Quan Giao thông, Quan Y-tế cũng dựa vào Dân để phục vụ Dân, nghĩa là lấy Dân làm gốc để xử lý bài toán thiếu vốn của ngành Y! Cột: – Nhưng nghe nói kế hoạch đó đã bị tuýt còi cho hoãn lại chưa thi hành mà? Kèo: – Tuýt gì đâu. Mà đấy là thêm một bằng chứng về tình thương của bà Bộ trưởng đối với Dân ta đấy, vì đáng lẽ sẽ thực hiện từ ngày 15/4/2012 vừa rồi rồi cơ, nhưng bà đã xin lùi thời điểm thi hành lại cho Dân bớt khó khăn! Cột: – Quan bà này đúng là một “lương y kiêm từ mẫu” nhỉ?!. Kèo: – Thì vưỡn! Cột: – Còn Quan trẻ nào lấy Dân làm gốc kiểu tương tự vậy nữa không, kể nốt xem nào? Kèo: – Còn! Còn Quan Tài chính, Ngân hàng nữa… Nhưng thôi, để lần sau kể tiếp, bây giờ tớ phải về nấu cơm cho mẹ đĩ đã!.. Cột: – Vội gì, còn sớm mà. Thôi thì cậu nói tớ nghe thêm một Quan trẻ biết lấy dân làm gốc nữa thôi, rồi hãy về. Kèo: – Vậy chiều cậu, tớ nói về mỗi Quan Ngân hàng nữa thôi nhé? Cột: – Đồng ý. Kèo: – Cậu có thấy trong một thời gian dài, lãi suất tín dụng cao ngất ngưởng, chỉ thua thời “Giá-lương-tiền” thôi không? Cao như thế thì các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất sẽ gặp vô vàn khó khăn, người lao động bị đe dọa thất nghiệp… Cột: – Cái đó thì rõ rồi! Kèo: – Vậy là Quan Ngân hàng nghĩ ngay đến Dân, phải dựa vào Dân mới hy vọng có lối thoát. Cột: – Thoát thế nào? Kèo: – Hạ lãi suất tiền gửi của Dân chứ còn thế nào? Cột: – Hạ thì phải hạ lãi suất cho vay mới giúp doanh nghiệp cơ hội phục hồi chứ hạ lãi suất tiền Dân gửi mà không kèm quy định hạ ngay lãi suất cho vay, thì chỉ béo các ngân hàng và gây thiệt thòi cho Dân thôi à? Dân có chút tiền còm, không biết dùng làm gì để sinh lời, ngoài cách đem gửi vào nhân hàng kiếm chút lợi nhuận để bù trượt giá… Thế mà trong khi giá vẫn leo thang hàng ngày, lãi suất tiền gửi lại bị ép giảm, thì chết Dân rồi! Kèo: – Thì “lấy Dân làm gốc” mà!.. Thôi chào cậu, tớ chuồn đây nghe…


[1] http://www.tin247.com/vao_benh_vien%2C_bo_truong_y_te_thay_dau_long-1-21868987.html

*****

CÒN MỘT CHỮ “ĐỒNG” NỮA

 

Kèo: – Cột ơi, một vị lãnh đạo gần đây có nói tới chữ “ĐỒNG”, cậu biết chứ? Cột: – Biết! “Đồng tâm, đồng chí, đồng ý, đồng lòng”, đúng không? Kèo: – Nguyên văn toàn câu nói của vị lãnh đạo ấy là: “nhiệm vụ năm 2012 và những năm tiếp theo ngày càng nặng nề, phức tạp; toàn Ðảng, toàn dân đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng… thì nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi việc[1]. Cột: – Một câu nói rất hay, rất có ý nghĩa, nhất là trong tình hình hiện nay, đúng không? Kèo: – Không “hay”, không “có ý nghĩa” thì lãnh tụ đã chả nói, mà lại nói tới hai lần nữa cơ nhé. Sáng 8-2, tại Trụ sở T.Ư Ðảng tại Hà Nội (NGUỒN: BÁO DÂN TRÍ) và Sáng 13-2, tại TP Hồ Chí Minh (NGUỒN: Trang web của TTXVN ). Cột: – Thế thì có thể khẳng định, tình hình lúc này, chữ ĐỒNG là quan trọng bậc nhất rồi. Kèo: – Lúc nào thì chữ đó cũng quan trọng bậc nhất, bởi có đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng…, mới có ĐOÀN KẾT. Có đoàn kết (thật lòng) mọi việc mới thành công. Từ hơn nửa thế kỷ nay, Bác đã dạy dân ta “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” rồi là gì. Cột: – Nghe cậu nói, giờ mình mới thực sự sáng mắt ra đấy! Kèo: – Nhưng còn một chữ “đồng” nữa… Cột: – Là chữ đồng gì? Kèo: – “đồng tình”! Ca dao xưa có câu: “Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”, cậu nhớ chứ? Cột: – Đồng kiểu ấy thì không thể tán thành được, không thể đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng được. Kèo: – Vẫn còn một chữ đồng nữa! Cột: – ?!. Kèo: – Chữ “đồng” này chỉ Việt Nam ta mới có: ĐỒNG BÀO! Cột: – Đồng bào thì tớ biết từ lâu rồi. Có nghĩa là “cùng trong một cái bọc” do Mẹ Âu Cơ đẻ ra chứ gì? Đã là đồng bào thì phải biết thương êu đùm bọc nhau… Kèo: – Nhưng thời thế thay đổi rồi. Đồng bào không bằng ĐỒNG NHÓM. “Nhóm” nói ở đây là NHÓM LỢI ÍCH mà ông Tổng bí thư cũng đã nhắc tới trong Hội nghị Trung ương gần đây đấy, biết chửa? Cột: – Đồng… NHÓM LỢI ÍCH?!. Thế lợi ích dân tộc, lợi ích Quốc gia thì sao?.. Kèo: – Thì… Cái “Đồng nhóm lợi ích” này sẽ có hệ quả là sự ĐỒNG LÕA trong việc xâu xé LỢI ÍCH QUỐC GIA, LỢI ÍCH DÂN TỘC, chứ còn sao nữa?!. Cột: – Ghê quá nhỉ? Kèo: – Chưa hết chuyện đâu, còn có một chữ ĐỒNG nữa cơ. Đó là… ĐỒNG TIỀN! Cái “đồng” này nhiều khi quyết định cả các thứ “đồng” khác nữa cơ đấy! Vai trò “quyết định” của đồng tiền đã được nhìn thấy từ lâu và phương Tây họ đã đúc kết thành câu: “Cái gì không mua được bằng tiền, sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Cột: – Cậu nói thế, tớ thấy tối sẩm cả mặt mũi lại rồi! Kèo: – Vậy tốt nhất là hãy thực hiện cho thật tốt lời lãnh tụ: đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng…đấu tranh loại dần cái “đặc quyền đặc lợi” của ĐỒNG TIỀN khỏi đời sống xã hội đi; để “quốc nạn” tham nhũng, nạn mua bán chức tước, nạn cậy quyền cậy thế áp bức dân đen… không còn đường hoành hành nữa… Cột: – Ừ nhỉ!.. Cậu lại làm cho mắt tớ sáng ra rồi! Hoan hô Kèo!..


[1] Theo: http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.nhandan.org.vn/Hoi-nghi-gap-mat-can-bo-cap-cao-cua-Dang-Nha-nuoc-da-nghi-huu/7872811.epi và: http://www.nhandan.org.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/tin-chung/h-i-ngh-g-p-m-t-can-b-c-p-cao-c-a-ng-nha-n-c-ngh-h-u-1.333203

*****

KÈO CỘT BÀN CHUYỆN… HỐI LỘ!

  Cột: – Kèo ơi! Tớ hỏi cậu điều này, cậu có thể không trả lời, nhưng đã trả lời, cậu phải hứa là trả lời trung thực! Kèo: – Gì mà hôm nay cậu rào đón ghê thế?.. Tớ với cậu xa lạ gì, hiểu nhau quá rồi còn gì… Nhưng thôi được, chắc là cậu cũng chả nỡ làm điều gì đó hại tớ, vậy nên… tớ hứa! Cột: – Hay lắm! Câu hỏi của tớ là: Cậu đã đi… hối lộ ai đó ba giờ chưa? Kèo: – Đi hối lộ ai á?.. Nghe ghê ghê thế nào ấy… Nghe cứ như cậu đang đóng vai thanh tra hoặc công an… điều tra tớ vậy! Cột: – Tớ không điều tra, chỉ muốn biết thôi… Không có ý hại cậu, cậu biết rồi mà. Kèo: – Nhưng mà cái cậu muốn biết ấy nó… động chạm lắm, nó “nhạy cảm” lắm!.. Tớ sợ nếu tớ nhỡ mồm thì… Nhưng thôi được, song cậu phải hứa với tớ là đây chỉ là câu chuyện tâm sự riêng của hai đứa với nhau thôi nhé. Cấm không được kể lại cho bất cứ ai nghe chưa? Cột: – Hây lắm! Tớ hứa. Thế nói ra xem nào? Kèo: – Nói trắng ra là đi “hối lộ” thì ghê ghê thế nào ấy, thôi thì ta cứ chọn một cái cụm từ nào nhè nhẹ một chút, tế nhị một chút, như là… đi “đưa quà chạy chọt” chẳng hạn! Cột: – Ừ thì đi “đưa quà chạy chọt”! Thế cậu đã… Kèo: – Cái chuyện đó thì có! Cột: – Cụ thể cái cậu gọi là “quà” ấy là cái gì vậy? Kèo: – Một túi bánh ngọt… với một chiếc phong bì! Cột: – “Quà” thì túi bánh ngọt đủ gọi là quà rồi, sao lại phải thêm chiếc phong bì? Kèo: – À, bây giờ “mốt’ nó thế. “Thời văn hóa phong bì” mà. Cậu cũng biết quá đi rồi, còn hỏi tớ làm gì! Cột: – Thế sao không chỉ đưa phong bì thôi cho nó “kín đáo”, lại phải đưa kèm túi bánh ngọt? Mà chắc là “chất” chứa trong cái phong bì có… giá trị hơn rất, rất nhiều lần túi bánh ngọt, đúng không?.. Kèo: – Lại còn hỏi thế nữa!.. Nhưng đưa mỗi cái phong bì cho người ta thì có mà ngượng chết. Người đưa ngượng, người nhận cũng ngượng! Đưa túi bánh, trong túi bánh có phong bì thì… chả ai ngượng cả! Ai cũng nhìn nhau cười phe phé, mặc dù tâm trạng hoàn toàn ngược nhau… Cột: – À ra thế! Không biết ai là người đầu tiên sang tác ra cách đưa “quà” kiểu “2 trong 1” ấy nhỉ?.. Tớ nghĩ phải đề nghị tặng “bằng sáng kiến phát minh” cho người ấy!.. Kèo: – Cậu nói… chỉ có đúng trở lên thôi! Cột: – Vậy, cái lần cậu đưa hối lộ… à… đưa quà ấy, là nhằm mục đích gì vậy?.. Kèo: – Đi xin việc cho thằng cháu con bà chị. Cột: – Thế thì số “tờ’ đựng trong cái phong bì hôm ấy, chắc chắn cũng phải “nặng đô” nhỉ?!. Kèo: – Cậu tò mò quá đi!.. Cột: – Tớ xin lỗi!.. Vậy kết quả việc ấy thế nào? Kèo: – Cháu mình đã đi làm được ba năm nay rồi. Cột: – Công việc tốt chứ? Kèo: – Chắc vậy. Có điều nếu thằng bé cứ chỉ làm nhân viên như hiện nay, thì bố mẹ cháu… buồn và lo lắm… Cột: – Sao lại buồn và sao lại lo? Kèo: – Buồn và lo đều chỉ vì một vấn đề thôi… Cột: – Vấn đề gì? Kèo: – Vấn đề tế nhị và nhạy cảm lắm! Cột: – Hé lộ cho mình một chút xem nào? Kèo; –  Hình như cậu cứ thích xoáy vào nỗi đau của người khác như vậy ư?.. Sao cậu không thử đặt mình vào hoàn cảnh vợ chồng bà chị mình xem, nuôi con ăn học bằng ấy năm trời, tốn kém đủ điều, tốn kém đủ kiểu, tốn kém mọi vẻ… “Quà” rải từ năm học mẫu giáo tới năm cuối đại học, mỗi năm ba bốn bận… Vét hết, bán hết, hết rồi thì bấm bụng đi vay, cốt sao nuôi con ăn học nên người. Thế mà, đến khi “chạy” có được công ăn việc làm rồi, mà chỉ làm nhân viên quèn, trần xì chỉ có lương, không có bổng lộc gì, thì làm sao bố mẹ trả được nợ? Làm sao có tiền cưới vợ, đẻ con?.. Cột: – Nhưng ở nước ta, lương nhân viên với lương cán bộ lãnh đạo có chênh nhau nhiều đâu. Làm sao giải quyết được nỗi băn khoăn của cậu? Kèo: – Lương thì nói làm gì. Cái chính là bổng, là lộc, là lậu! Cột: – Là những thứ… “quà” như chính cha mẹ thằng cháu cậu đã từng dùng để đưa… Kèo: – Đại loại thế!.. Cậu lạ gì nữa mà còn hỏi!.. Cột: – Có nghĩa là: Gia đình tôi tốn bao nhiêu là “quà” mới có được cái vị trí việc làm này, chứ đâu phải tự nhiên mà có! Vậy thì, bây giờ tôi phải có trách nhiệm giúp bố mẹ trang trải các chi phí mà họ đã bỏ ra trong suốt thời gian qua chứ? Rồi tôi còn phải lo cho chính cuộc sống của mình nữa… Do vậy, không thể chỉ trông vào mỗi khoản lương ít ỏi được, mà phải… “tính”, không “tính” kiểu này thì “tính’ kiểu khác?      Kèo: – Đúng. Ai cũng phải thế thôi, không thể sống “cao đạo” được! Cao đạo thì chỉ có mà đói cả nhà, cả họ!.. Cột: – Ra thế!.. Kèo: – Tớ ví von thế này chắc chưa chuẩn, nhưng cũng phần nào nói được nội dung vấn nạn này, đó là “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy” – khép kín một vòng tròn Cột: – Và sau một vòng này thì một vòng tròn mới lại bắt đầu… Một kiểu đèn cù… Tít mùlại vòng quanh!.. “Khen ai khéo vẽ ối a cái đèn cù!.. Đèn cù, đèn cù là đèn cù!..”, đúng không?!. Kèo: – Thì đúng là thế đấy! Đều là do hoàn cảnh đưa đẩy, bắt buộc chứ bản thân mỗi người, đâu có phải ai cũng sẵn có thói xấu thích… “lậu nhiều hơn lương”? Cột: – Tớ nhớ đến một câu được thầy cô và cha mẹ dạy cho từ bé: “Người ta vốn tính bản thiện”. Kèo: – Đúng! Cột: – Nhưng hoàn cảnh đã buộc tôi, buộc anh chị, buộc họ… phải hành động khác với chính lương tâm của chính mình! Ôi! Không biết cái nạn này nên gọi là gì nhỉ và quan trọng hơn là làm thế nào để ngăn chặn được nó đây? Ngăn từ gốc, chứ không phải từ ngọn; ngăn bằng hành động hiệu quả chứ không phải bằng lời nói suông – Và cuối cùng, câu hỏi này chuyển đến ai là đúng địa chỉ nhất đây?!..

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: