TÀO MẠT – Người có nhiều gắn bó với Thành Nam – quê vợ.

TÀO MẠT – Người có nhiều gắn bó với Thành Nam – quê vợ.

Ký họa của Lương Xuân Đoàn.

Nhà văn Chu Văn viết về Tào Mạt: sau cái hôm bộ ba vở chèo này mới được công diễn: “Một số người tỏ ra thiếu trung hậu đối với việc phê bình Bài ca giữ nước… Người ta bắn tin: “Lý Thường Kiệt là ai? Lê Văn Thịnh là ai?” Tào Mạt cười đau khổ:Là hai nhân vật trung và nịnh, thời Lý thế kỷ XI“.

Người đó tò mò lại xoay:Tại sao anh lại cho chôn nhân vật Hề Hoạn?” Tào Mạt tròn mắt, ngạc nhiên: “Tôi không làm việc ấy. Lê Văn Thịnh chôn Hề Hoạn đấy chứ. Vì lão ghét và sợ Hề Hoạn nói thẳng“.

Trong vở kịch của mình, khi Hề Hoạn hỏi những người đem ông đi giết vì tội gì thì ông đáp:Tội của ông: một là, ông quá tin yêu người; hai là ông không biết uốn lưỡi. Những việc như thế ông lại đi nói với quan Thái sư. Chết là đáng rồi. Kiếp sau nếu lại làm người, thì phải tập cho cái lưỡi nó dẻo một tí. Phương ngôn có câu: “Gió chiều nào che chiều ấy mà“.

***

Tào Mạt tên thật là Nguyễn Duy Thục, có lúc viết là Nguyễn Đăng Thục[1], sinh tại xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

Ông tham gia các hoạt động cách mạng do Việt Minh tổ chức từ 1942, khi còn rất ít tuổi, tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 ở Hà Tây và là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1946, khi mới 16 tuổi. Tào Mạt đặc biệt yêu thích văn học Hán-Nôm và chủ yếu tự học để nghiên cứu. Ông là sỹ quân Quân đội Nhân dân Việt Nam, mang quân hàm Đại tá.

Tào Mạt qua đời ngày 13 tháng 4 năm 1993 tại Bệnh viện Quân đội Trung ương 108, Hà Nội do bệnh ung thư.

Ông để lại khoảng 20 kịch bản chủ yếu là chèo, ngoài ra còn sáng tác thơ chữ Hán. Tào Mạt được tặng danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minhđợt 1 (năm 1996) văn nghệ thuật sân khấu.

Tác phẩm

Thành tựu nghệ thuật

Các kịch bản của Tào Mạt, đỉnh cao là bộ ba chèo Bài ca giữ nước toát lên tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc truyền thống cũng như tính dân chủ, ý thức công dân hiện đại và tính nhân văn sâu sắc làm rung động lòng người. Về nghệ thuật, tác phẩm của ông kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp hiện thực với yếu tố dân gian. Trên cơ sở các làn điệu chèo truyền thống, ông đã sáng tạo ra những làn điệu mới để chuyển tải một cách hiện đại hơn nội dung tư tưởng. Bộ ba chèoBài ca giữ nước được giới chuyên môn đánh giá là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nghệ thuật chèo nói riêng và nghệ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam nói chung; nhân vật Hề Hoạn với những lớp trò, lời thoại đặc sắc có thể sánh ngang với những nhân vật tiêu biểu của chèo truyền thống. Những đóng góp đó của Tào Mạt đã tạo nên một sức sống mới cho nghệ thuật chèo hiện đại Việt Nam.

Ông còn là tác giả ca từ cho bài hát “Bước chân trên dải Trường Sơn” của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối, bài hát được gọi là “quân ca của người lính Trường Sơn“.[2]

Bút danh

Sở dĩ Nguyễn Duy Thục lấy bút danh Tào Mạt vì ông kính phục nhân vật Tào Mạt – viên tướng nước Lỗ thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, được ghi lại trongSử ký Tư Mã Thiên và Đông Chu Liệt Quốc.

Tướng Tào Mạt nổi tiếng với điển tích cầm chuỳ thủ đe doạ Tề Hoàn Công (vua nước Tề, khi đó đang làm bá chủ chư hầu) trong cuộc hội thề với vua Lỗ (Lỗ Trang Công) để đòi lại cho nước Lỗ nhưng vùng đất đã bị nước Tề chiếm [3].

——–

1.  Tiểu sử Tào Mạt, Bộ văn hóa Việt Nam

2. Nguyễn Thụy Kha, Vũ Trọng Hối và những giai điệu để đời xuyên Trường Sơn, Báo Công An Nhân Dân, 25/12/2005

3. Sử ký Tư Mã Thiên

  1. Nhân cách “Tào Mạt chèo”

    Nhan cach 'Tao Mat cheo'

    Tào Mạt không mấy gây thiện cảm khi lần đầu gặp mặt. Mới nhìn chẳng có tướng mạo vẻ dáng gì là một khách văn chương. Người cao, gầy, to xương, chân tay thô cứng. Bộ tóc rễ tre rất dày, rất xanh, húi ngắn lấn xuống vầng trán thấp. Mặt mũi lúc nào cũng xương xẩu, hốc hác. Duy đôi mắt sâu, nhìn bao giờ cũng thẳng, toát lên nỗi suy tư, ánh sáng trung hậu, cả tin và đôi môi rộng nụ cười thật thà, cởi mở. Đặc biệt giọng nói, bao giờ cũng to tát, gẫy gọn. Một người vụng về nhưng giản dị, và thành thật.

    Ông tên thật là Nguyễn Đăng Thục, bút danh Tào Mạt. Tự mình hay do ai đặt cho bút danh ấy và có ý nghĩa gì trong cuộc sống cũng như đeo đuổi suốt cuộc đời sáng tác của ông. Chuyện đó tới nay cũng chưa mấy ai tường tận. Chỉ biết rằng ngay từ ngày đầu thoát ly đi tòng quân, Đăng Thục đã có tên thường gọi như thế. Đồng đội có người đùa Tào Mạt là con cháu Tào Tháo, chúa đa nghi. Thục chỉ cười trừ. Khi vở kịch đầu tiên viết mang bút danh ấy, bạn văn nghệ giễu, Trung Quốc có Tào Ngu kịch tác gia nổi tiếng với vở Lôi Vũ, đặt bút danh này là chơi trội. Đăng Thục chỉ cười mỉm.

    Hồi năm sáu tuổi, cha cho đến ở cùng ngôi nhà cao to đồ sộ. Đây là nhà thờ họ của một quan lại phong kiến cỡ lớn, làm việc trên tỉnh. Vị quan lớn giao cho cha trông coi, quét dọn thường ngày, xuân thu nhị kỳ cả đại gia tộc mới kéo về lễ Tết. Lúc rảnh cha thường kể cho Thục nghe nhiều chuyện Tàu, Đông Chu liệt quốc, Tây du ký, Thủy Hử, Hán Sở tranh hùng, Tam quốc diễn nghĩa.. Giữa bạt ngàn hàng trăm vua quan văn nhân võ tướng quân sư lừng lẫy trong khu rừng đại ngàn ấy, một nhân vật chỉ xuất hiện một lần trong Đông Chu liệt quốc là Tào Mạt lại vô cùng ấn tượng trong đầu óc thơ ngây của bé Thục.

    Tào Mạt là mưu sĩ của vua nước Lỗ. Nước Lỗ ba lần chống trả quân Tề đều bị thua, để mất đất Vân Dương. Vua Tề cho mời vua nước Lỗ sang hội thề. Tào Mạt xin đi cùng phò tá Lỗ Trang Công trong tư thế một nước yếu kém. Tề Trang Công cậy thế nước mạnh buông lời sỉ nhục, lên giọng trịch thượng. Vua nước Lỗ cam chịu mọi bề. Trước cảnh trái ngang Tào Mạt căm uất trợn trừng, máu tóe ra cả đuôi mắt, hầm hầm nổi giận, xông đến túm vạt áo vua nước Lỗ, một tay rút gươm lớn tiếng trách mắng Tề Trang Công. Vua Tề vừa sợ vừa nể phục người mưu thần đầy dũng khí đành phải hạ mình xin lỗi vua Lỗ và trả lại đất Vân Dương cho nước Lỗ.

    Chàng thanh niên Đăng Thục lấy tên Tào Mạt ngay trong thời gian kháng chiến, hoạt động trong vùng địch hậu Hà Tây sau khi được kết nạp Đảng để tỏ rõ ý chí bất khuất trước thế mạnh của kẻ thù. Khi làm cán bộ tuyên huấn, rồi viết kịch, bút danh Tào Mạt trở thành tên gọi quen thuộc, người ta quên bẵng cái tên Đăng Thục của ông…

    Tào Mạt không mấy gây thiện cảm khi lần đầu gặp mặt. Mới nhìn chẳng có tướng mạo vẻ dáng gì là một khách văn chương. Người cao, gầy, to xương, chân tay thô cứng. Bộ tóc rễ tre rất dày, rất xanh, húi ngắn lấn xuống vầng trán thấp. Mặt mũi lúc nào cũng xương xẩu, hốc hác. Duy đôi mắt sâu, nhìn bao giờ cũng thẳng, toát lên nỗi suy tư, ánh sáng trung hậu, cả tin và đôi môi rộng nụ cười thật thà, cởi mở. Đặc biệt giọng nói, bao giờ cũng to tát, gẫy gọn. Một người vụng về nhưng giản dị, và thành thật. Ai quen biết đều yên tâm, cảm thấy là người tin cậy mỗi khi gặp chuyện vất vả, nguy hiểm, mỗi khi có việc nhờ cậy, chẳng nề hà gì.

    Có lần nghe tôi giới thiệu về Đa Sĩ, quê vợ tôi, ngoại ô thị xã Hà Đông (nay là quận Hà Đông). Một làng nổi tiếng nghề dao kéo, nhiều bậc Nho sĩ, Khoa bảng, trước kia cũng như bây giờ. Nhân ngày hội làng tôi mời ông về, cho họ tộc nhà tôi đôi câu đối. Ông đồng ý ngay và hai anh em đạp xe từ Hà Nội hơn 10 cây số vào Đa Sĩ. Câu đối Tào Mạt cho hồi nào vẫn còn ở nhà thờ họ Trịnh Đa Sĩ. Lại có chuyện rất chi là Tào Mạt: Thường Tết Nguyên đán, ông chẳng mấy khi ăn Tết ở nhà. Sáng mồng một nào cũng sắm đôi cặp bánh chưng, một khoanh giò, hộp mứt… cho vào một bọc đèo sau xe đạp ra chân cầu Long Biên cùng mấy người cù bơ cù bất ăn Tết. Giai thoại về Tào Mạt còn nhiều, nhiều lắm. Chuyện nào cũng đầy ắp tình nghĩa, chuyện nào cũng làm ta xốn xang…

    Nói về sự viết thì cũng không ai như Tào Mạt. Cái tướng người vất vả, lúc nào cũng tất bật, xốc xếch, lam lũ. Nhà văn Chu Văn đồng đội cũ của ông hồi nhớ: Thời cơ quan sơ tán, rộng vườn đất nhưng hẹp nhà cửa, bao giờ tới thăm tôi anh cũng đeo một ba lô to, trong đủ chăn áo, màn võng. Còn bản thảo, đó là một tập giấy, mép quăn tít, một mặt in rônêô (công văn hoặc tài liệu bỏ đi) còn mặt kia là giấy trắng tận dụng, nhiều chỗ nhọ nhĩnh. Tào Mạt lập “doanh trại” viết luôn. Bàn viết là một mảnh chõng tre, và ngồi bệt xuống manh chiếu rách. Hoặc là một góc vườn, có gốc tre cành nhãn gì đó, mắc lên cái võng bạt. Thế là đủ. Nhà viết kịch quê mùa của chúng ta ngồi trên võng, gù gù lưng gấu, gật gù mái tóc rễ tre lởm chởm, đưa bút lia lịa. Thỉnh thoảng đứng dậy, vươn vai ngáp dài, cái áo cổ vuông màu nghệ đẫm mồ hôi, và ống quần đùi xòa xòa trên đôi chân gộc gạc. Tào Mạt giải lao, tu bi đông nước chè khô, hút thuốc lá quấn, thở ra từng đụt khói dày, se sẽ hát, rồi lại hát to. Anh đang nhập vào hồn nhân vật. Hát rồi lại viết, viết rồi lại hát. Lại bỗng dưng nhăn nhó bóp trán. Có thể anh đang nắm bắt một ý nào thoáng hiện trong đầu. Trang giấy trước mặt đen kịt những chữ, ngang dọc, chéo, không còn lấy một chỗ hở. Anh đưa lên ngang tầm mắt, ngắm nghía, đọc lại, bệt xuống chiếu, hoặc thong thả đung đưa võng bạt. Con người đánh vật với câu chữ như cày ruộng. Không thấy cái phong thái thanh thản, tài hoa thường có ở một văn nhân.

    Đấy là trong thời gian khó. Đến cả sau này, khi đã thành một tên tuổi, đã có nhà cửa tương đối đàng hoàng, phong cách Tào Mạt vẫn không đổi. Đi đâu cũng chung thân bộ áo lính. Nhà vẫn chỉ có cái bàn viết thấp tè đặt trên chiếu trải ở góc nhà. Và khi viết, nhất là lúc đang “lên đồng, nhập cốt” thì vợ con phải đi chỗ khác. Vừa viết, vừa múa, hát, thoắt cái lại buông người bệt xuống chiếu gù lưng viết. Có khi lại đánh mấy nhịp trống con gây… không khí.

    Hồi ông ở Lý Nam Đế, đôi lần tới thăm ông, thấy cảnh ấy, tôi phải len lén đứng bên ngoài, đợi ông “hết cơn” mới dám đánh tiếng. Hồi Tào Mạt vào trong Xuân Đỉnh, trực tiếp dàn dựng vở chèo “Bài ca giữ nước” cho Đoàn nghệ thuật Tổng cục Hậu cần, trong căn phòng dành riêng cho nghệ sĩ, hằng đêm sửa lại kịch bản, viết lại một làn hát, ông vẫn thế. Có đêm thức giấc giữa đêm, trời chưa sáng, hứng lên ông xuống khu tập thể diễn viên gọi dậy tập tành. Một khuôn múa, một làn hát, một khúc thơ ngâm, một điệu thức… mới nghĩ ra hoặc mới chỉnh sửa. Các nghệ sĩ trong đoàn đã quen cách làm việc của ông thầy, nên chẳng ai dám trách cứ. Giờ đây Tào Mạt đã đi xa 15 năm rồi, nhắc lại kỷ niệm xưa, các nghệ sĩ mặc áo lính vẫn rưng rưng…

    Bàn về ” Kịch hát dân tộc” Tào Mạt có bài kệ. Bản viết tay ngày 17/5/1986 tôi còn giữ đây. Bài kệ như tỏ bày quan niệm của ông rất khúc chiết, rành mạch: Văn là ý nghĩ/ Tiếng nói con người/ Phải, trái, ngược, xuôi/ Chính, tà phân biệt/ Văn mà rõ rệt/ Nhạc cất lên lời/ Cao, thấp, buồn, vui/ Yêu thương, giận, ghét/ Cầm, buông, nhanh, lướt/ Tình cảm muôn màu/ To, nhỏ, nông, sâu/ Tai nghe đã tỏ/ Trong mà đầy đủ/ Ngoài khắc rõ ràng/ Tròn, méo, dọc, ngang/ Dáng người, nét cảnh/ Cứng, mềm, nóng, lạnh/ Mắt phải dễ coi/ Vào ngọt lòng người/ Văn, nhạc, múa, vẽ/ Kết hợp chỉnh thể/ Mọi nhẽ, mọi người/ Trò diễn xong xuôi/ Nên công, nên quả…

    Tào Mạt là người đắm đuối với Chèo. Trước số phận lênh đênh dặm trường của Chèo, bị thiên hạ ghẻ lạnh, ông tái tê, đau buốt, nhiều lúc muốn rũ bỏ tất cả. Lại chứng kiến nhiều hiện tượng tiêu cực của xã hội, đạo đức truyền thống xuống cấp, niềm tin bị tổn thương, ông bi quan, phát bệnh. Có thời gian dư luận đồn thổi Tào Mạt bị bệnh tâm thần, không ít người xa lánh, sức khỏe giảm sút. Nhưng may mắn thay còn rất nhiều anh em gần gũi, cảm thông, chia sẻ cùng ông. Cơn bệnh tinh thần qua đi, Tào Mạt lại phấn hứng, lại hào sảng. Ông lớn tiếng. Cứ cho là nghệ thuật chèo bị coi rẻ, bị phá phách nữa đi. Nhưng trong bối cảnh lịch sử nào? Trong lúc xã hội đang có nhiều vấn đề phức tạp, tiêu cực, phải không? Trong những lúc khó khăn về kinh tế, xã hội đang phát sinh nhiều vấn đề.

    Không chỉ tỏ bày “máu lửa” bắng lời nói, hơn ai hết, Tào Mạt dốc tâm huyết, sức lực vào tác phẩm. Chỉ có sân khấu, phương tiện nghệ thuật đến với quảng đại công chúng trực tiếp nhất, mạnh mẽ nhất, hữu dụng nhất.

    Có lẽ trò nhời được Tào Mạt ưu ái dành phần nhiều cho nhân vật Hề. Chưa có vở chèo nào hề thành nhân vật có thân phận, có tính cách đàng hoàng chứ không phải như kiểu hề gậy, hề mồi… thường gặp. Nhân vật Hề xuyên suốt cả bộ ba vở chèo, tập I là anh Hề, tập hai là chú Hề, tập III “lên chức” ông Hề mặc dù không con cái mà lớn dần theo tuổi tác. Ông Hề đã bị bọn người xấu ám hại khi tuổi mới 60. Xuyên suốt cả ba tập, xuyên suốt tích chèo, có can hệ tới các nhân vật chính, đến cả thời cuộc, đấy là điểm sáng tạo độc đáo chỉ Tào Mạt mới có. Hề đây là gương mặt, là ảnh hình của nhân dân, tâm hồn nhân dân. Hề ý thức là người làm trò vui cho người khác. Nhưng “người làm trò cũng như người truyền giáo, giữ danh giá cho mình là giữ danh giá cho nghề”. Rất biết mình biết người, có thể “tự hát” về mình như thế này:

    Được hay mất chẳng hề vương vấn

    Khen ta, vâng. Chê ta, vâng, coi thoáng trận nồm đông

    Khi thơ, khi rượu, khi cắc, khi tùng

    Không Phật, không tiên, chẳng thanh chẳng tục

    Nhìn phía trước, chẳng tham hồng, tiếc lục

    Ngước mắt nhìn muôn dặm trời xuân.

    Làm vui trong cõi nhân quần

    Người vui, ta cũng có phần vui chung…

    Đây là tâm sự của ông Hề già hay chính tâm sự của Tào Mạt ? Như đã nói, lớp “chôn hề” gây hiệu ứng nơi khán giả nỗi xúc động lớn lao. Trước khi về cõi hư huyền, ông Hề già bộc bạch: Suốt đời ta làm vui cho người/ Thấy kẻ ăn bám, tham lam thì ta cười tủm, cười ruồi/ Thấy nịnh hót, ác gian thì ta cười khinh, cười bỉ/ Thấy kẻ nhố nhăng ta cười ầm, cười ĩ/ Thấy chuyện bất công ta cười đắng, cười cay/ Ta cười cho sáng lẽ dở hay/ Kẻ gian hoảng vía, người ngay hả lòng… Nếu còn kẻ nhung nhăng bậy bạ/ Thì dân ta lại nảy ra hề… Và ông hề cất lên lời hát cuối cùng :

    Nhắn ai trong cõi hồng trần

    Làm người phải lấy chữ Nhân làm đầu.

    … Ta say, ta say uống cạn bầu trời

    Ta về với đất là nơi ta sinh thành

    Trời là Cha, đất là Mẹ

    Trời cha đất mẹ ân tình…

    Trò nhời của Tào Mạt thấm đẫm tình điệu sâu xa, đầy ý vị triết lý nhân sinh khiến người xem không thể không nghĩ ngợi, không liên tưởng… Cũng trong bộ ba vở chèo này, đã có những mảnh trò hay, trong nghề gọi là lớp trò mẫu, như Xúy Vân giả dại, Thị Màu lên chùa, Việc làng, Phù thủy sợ ma… trong các vở chèo cổ nổi tiếng. Đấy là lớp ” Lột áo quan Tri châu” hài hước phê phán, lớp ” Chôn hề” đầy cảm thán lãng mạn…

    Nhà nghệ sĩ mang bút danh con người “uy vũ bất năng khuất” trong Chiến Quốc đã về với đất Mẹ, nhưng những gì ông đã dâng hiến cho đất nước, cho nhân dân, nhất là tác phẩm ” Bài ca giữ nước” làm rạng danh cho bộ môn kịch hát dân tộc thời hiện đại, còn mãi với thời gian. Và còn mãi một nhân cách văn chương, nhân cách nghệ sĩ lớn – Tào Mạt Chèo

***
2/ Dựng tượng đồng nhà viết kịch, đạo diễn Tào Mạt

10 năm sau ngày nhà viết kịch, đạo diễn, NSND Tào Mạt đi xa, bạn bè trong Câu lạc bộ Văn nghệ sĩ xứ Đoài đã đóng góp công, của dựng tượng đồng ông. Lễ dựng tượng diễn ra hôm đầu tuần tại trường trung học cơ sở xã Hữu Bằng, quê hương ông.

Tượng đồng NSND Tào Mạt do nhà điêu khắc Minh Đỉnh thực hiện, được đánh giá là đẹp và đã thể hiện được hồn của Tào Mạt. Dự lễ dựng tượng ngoài cán bộ, nhân dân, tại quê nhà còn có các anh chị em trong đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần và đoàn Chèo Hày Tây.

***
3/ Bài thơ 4 câu cuối đời của nhà biên kịch Tào Mạt


Bây giờ ở chợ Hòe Nhai, Hà Nội đã có bán loại lạc đỏ sậm, lạc 6 tháng và trứng vịt vỏ xanh, loại lòng đỏ lớn và thơm làm tôi nhớ tới chị Bát, người vợ của nhà biên kịch Tào Mạt. Người vẫn thường chạy chợ bán lẻ trứng vịt và lạc khô kiếm ít đồng thuốc thang cho chồng và chăm chút bữa ăn cho cả nhà. 

Khi Tào Mạt phát bệnh ung thư, những cơn đau không căn cớ, đau nhẹ ông lại dắt xe đạp ra đường để cố quên. Chỉ mãi đến khi đau nặng ông mới chịu vào Viện Quân y – 108. Ông là tác giả của kịch bản chèo “Cái balô”, “Chị Tâm bến Cốc”, “Trong phòng trực chiến”, “Đỉnh cao phía trước”, “Bài ca giữ nước”, và tập “Thơ chữ Hán Tào Mạt”.

Tào Mạt nghĩ về nghề, ông nói: “Sau khi ra đời, tác phẩm tự nó cất cánh”. Giờ thì ông mất đã 15 năm, nhưng trước khi mất còn dặn vợ, đưa ông về quê, cho ông nằm ở ruộng lúa cánh đồng Thạch Thất (Hà Tây) quê nhà, và chớ có xây, cứ để cỏ mọc. “Bà và các con nhớ là được”. Đấy là lời chị Bát tâm sự với tôi.

Tôi ngơ ngác không hiểu, sao bác Tào Mạt lại chọn một mình giữa đồng lúa mà nằm, lại còn dặn vợ đừng xây cất?

Giở lại một cuốn sổ giấy cũ ố vàng của tôi năm 1992, có dòng chữ ông ghi bằng chữ Hán và phiên âm bài thơ lần cuối có bốn câu:

Sáu mươi ba xuân đi qua

Ngắn hơn tiếng đàn buồn

Từng trải qua bao nhiêu cuộc đánh trận

Chỉ để lại một tiếng nổ không vang“.

Đó là lần khi dịu đi cơn đau trong người. Ông vào chợ mua bún chả, xách đến nhà tôi khao anh Triệu Bôn chồng tôi, đó là lý do ông viết bài thơ này. Tôi đã bảo: “Bác ghi vào sổ em mới nhớ được”. – May sao bút tích vẫn còn.

“Bài ca giữ nước” xôn xao dư luận một thời ở Hà Nội, tối tối nhớ Tào Mạt là nhớ, người ta rủ nhau đi xem chèo “Bài ca giữ nước”. Tào Mạt không chỉ biên kịch chèo, ông múa và hát chèo cũng hay. Ông cầm đũa gõ vào bát thay phách, nhịp rồi ngâm nga. Cả nhà tôi ba người, cứ tròn mắt lên xem bác Tào Mạt diễn chèo trên “sân khấu” là cái nền nhà có 4 mét vuông ở 19 Hàng Buồm.

Tào Mạt vào vai hề chèo, ông tự thoại mà, con tôi cười nghiêng trời nghiêng đất. Nhưng lúc đó, tôi không hiểu sự hóa thân của ông đang che giấu những mầm bệnh ung thư đau đớn.

Khi tiễn bác, tôi còn nhớ cái tết Giao thừa năm 1993, ông đến mừng tuổi cho cháu rồi bảo: “Bác mừng tuổi cháu sớm cho hên,” rồi sau Tết, ông vào Viện 108, tháng tư, ông ra đi.

Hình như trước khi đi về với đất, Tào Mạt đã ngộ ra rất nhiều lẽ sống trong đời.

Ông viết: “Văn nghệ là cái bóng của cuộc đời đi qua sức tưởng tượng thăng hoa của nghệ sỹ, lấy chuẩn mực nhân văn để đo giá trị, phải dựa vào công chúng và thời gian mới đánh giá được…

Nếu tác phẩm bị quên mà người làm ra tác phẩm chỉ còn danh và lợi, thì đó là tác phẩm cầu danh. Có danh lợi cho người làm ra nó rồi, tự nó chết đi. Danh lợi hết, người làm nên tác phẩm cầu danh lợi đều bị vùi trong quên lãng…”.

Ông đã thấu đủ nỗi đời, đi qua trận mạc, đi qua nhiều cánh rừng, gặp gỡ nhiều thân phận để viết. Chữ Hán ông viết rất đẹp, ông đọc thơ Đường thơ chữ Hán am tường, lịch lãm, dịch nghĩa cặn kẽ nếu chịu khó ngồi nghe ông.

Bây giờ giở lại bài thơ cuối của Tào Mạt, tôi mới giật mình nhận ra sự khiêm tốn của một người tài hoa như ông. Chỉ nhận “để lại một tiếng nổ không vang”.

Nhà biên kịchTào Mạt sớm biết lặng lẽ chọn chỗ nằm nghỉ ở cánh đồng quê huơng ông. Rồi ba năm sau ngày ông mất, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (1996).

Ông chỉ dám nhận đời ông chỉ để lại một tiếng nổ không vang. Nhưng giờ đây đọc lại kịch bản của ông, tôi như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc, thời đó ra ngõ gặp anh hùng, ngọn cỏ cũng lập công hiển hách.

Tiếng vang của tác phẩm Tào Mạt vẫn còn có dư chấn đến hôm nay, cho những người yêu Tổ quốc, cho ngày thanh niên nhập ngũ lên đường làm nghĩa vụ công dân, người lính Cụ Hồ. Trong cách sống lặng lẽ của Tào Mạt, ông như người giữ lửa, làm nghệ thuật phải có nhân cách lớn mà không phải ai cũng dễ dàng một lúc sớm ngộ ra

Hoàng Việt Hằng (nhà thơ)

http://ca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=131478

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: