Vai trò của văn hoá trong nền kinh tế hội nhập

Vai trò của văn hoá trong nền kinh tế hội nhập

(Vũ Đình Mai)

 Thế giới phẳng là một thế giới mà các rào cản chính trị, biên giới, dị biệt văn hoá đang ngày càng được xoá mờ để xâm nhập vào nhau, hoà quyện vào nhau nhờ lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức vươn ra khỏi biên giới tự nhiên của mỗi quốc gia, đặc biệt là sự thành công của cuộc cách mạng kỹ thuật số.

Với thiên tài của mình, Mác và  Ănghen đã tiên đoán được điều này ngay từ giữa thế kỷ XIX. Trong “Tuyên ngôn đảng Cộng sản” xuất bản lần đầu tiên năm 1848, có đoạn:  “…giai cấp tư sản đã làm cho sự sản xuất và sự tiêu thụ của tất cả các nước đều có tính chất thế giới. Mặc cho bọn phản động đau buồn, nó đã làm cho công nghiệp mất cơ sở dân tộc…Việc du nhập những công nghiệp mới trở thành vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc; công nghiệp mới này không dùng nhữnh nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu từ những vùng xa xôi nhất đem đến, và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất…Những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến đối với nhau giữa các dân tộc ngày một phát triển thay thế cho tình trạng cô lập trước kia…Sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém phần như thế. Những thành quả tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc…từ những nền văn hoá dân tộc và địa phương đang nảy nở một nền văn hoá toàn thế giới.

Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông vô cùng thuân lợi, nó lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phầm là những trọng phảo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại ương ngạnh nhất cũng phải hàng phục…”  (Mác-Ăng ghen tuyển tập-Tập Một, tr:32,33)

Điều đó cho thấy toàn cầu hoá hay quá trình thế giới phẳng là một qui luật khách quan, tất yếu, là kết quả của sự tiến bộ của lực lượng sản xuất chứ không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai.

Việc đất nước ta là thành viên đầy đủ trong Tổ chức thương mại thế giới là bước đi hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại.

Thế giới đã trở thành một công xưởng sản xuất lớn, một ngôi chợ chung cho toàn nhân loại. Ở đấy, mỗi thành viên tham gia phải tôn trọng luật chơi chung, phải tìm và phát huy được thế mạnh của mình, làm cho mình giầu có lên và cũng góp phần cho toàn nhân loại giầu có lên.

Toàn cầu hoá hay thế giới phẳng là chuyển đổi phương thức tạo giá trị theo chiều đứng từ trên xuống ( chỉ huy và kiểm soát) sang mô hình sáng tạo giá trị theo chiều ngang ( kết nối và cộng tác).

Từ chỗ người chủ phải để mắt đến mọi thứ, phải trực tiếp giám sát mọi công việc đến chỗ mọi công việc được điều hành bới sự phân công, cộng tác dù  những người trong dây chuyền sản xuất cách nhau cả nửa vòng trái đất.

Toàn cầu hoá hay thế giới phằng là tạo lập một sân chơi mới với những người tham gia mới và với qui trình và tập quán mới. trên cớ sở phát huy thế mạnh của mọi thành viên tham gia.

Các nhà kinh tế học từ Adam Smith, Ricardo đến Samuelson… đều đã phân tích rất nhiều về sự phát triển không đồng đều của tình trạng kinh tế các nước, các khu vực. Ngoài những lý do như tài ngyên thiên nhiên, vị trí địa lý… đều nhấn mạnh đến vai trò văn hoá của từng dân tộc. Các nhà lý luận cho rằng sở dĩ phương Tây phát triển nhanh hơn, tiến tới nền văn minh sớm hơn là nhờ họ có óc duy lý, có một xã hội cởi mở, khuyến khích và tôn trọng mọi ý trưởng sáng tạo của mọi công dân. Bảo đảm cho công dân được tiếp nhân thông tin và truyền bá sáng kiến của mình.

Đất nước ViệtNamta có nguồn tài nguyên tuy không nhiều nhưng không thua kém các nước trung bình, trong khi đó ta có vị thế địa-chính trị hơn hẳn nhiều nước. Vùng biển của ta là cửa ngõ qua lại của nhiều vùng kinh tế thế giới,  thuân tiện cho xuất nhập khẩu với toàn cầu.

Cái còn lại đáng bàn ở đây là yếu tố văn hoá.

Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, khi đã hình thành, nó lại tác động trở lại cuộc sống của những con người sản sinh ra nó.

Văn hoá là toàn bộ những nhận thức, những giá trị của một dân tộc, nó tạo ra cho dân tộc đó cách suy nghĩ và hành động, cách tiếp cận và ứng xử với nhau, với môi trường tự nhiên cũng như với môi trường xã hội.

Mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc trên những miền đất khác nhau, cách sinh sống, sản xuất khác nhau, dẫn đến các nền văn hoá có những đặc điểm riêng. Dân tộc nào có nền văn hoá mở, tôn trọng tự do sáng tạo của từng cá nhân, dân tộc ấy tiến nhanh hơn. Dân tộc nào chịu áp lực của nền văn hoá trì trệ, thích bảo lưu cái cũ, dân tộc ấy chìm trong lạc hậu, nghèo đói lâu hơn.

Tuy mỗi dân tộc có nền văn hoá riêng của mình, nhưng chúng luôn giao thoa với các nền văn hoá khác. Một mặt nó góp phần làm cho văn hoá các dân tộc tiếp thu được cái mới, cái tiến bộ để phát triển. Mặt khác nó cũng đe doạ làm thui chột những nền văn hoá yếu kém.

Chúng ta từng biết khi người Mãn xâm lược, đặt ách thống trị lên người Hán, nhưng vì nền văn hoá Mãn quá yếu ớt nên đã bị nền văn hoá Hán là nền văn hoá của kẻ bị trị tiêu diệt. Trường hợp này tuy hiếm nhưng đã từng xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc mà chính Mác cũng đã nhắc đến.

Hiện tượng phổ biến là nền văn hoá của dân tộc bị trị bị văn hoá của kẻ thống trị đồng hoá, tiêu diệt.

Không biết tổ tiên ta chính thức lập nước từ bao giờ, nhưng chúng ta bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ trên dưới hai nghìn năm. Cùng với bộ máy đô hộ là nền văn hoá nô dịch sang theo. Trong đó chủ yếu là học thuyết của đạo Khổng.

Ngoài việc khuyên vua phải làm gì, quan phải làm gì để duy trì trật tự phong kiến, đạo Khổng còn buộc người dân phải yên phận trong cái trật tự ấy. Với bao nhiêu luật lệ trói buộc nhân dân. Đã là kẻ tôi trung thì không được thờ hai chúa, mà không được phép xem cái chúa ấy có xứng đáng để thờ hay không.

Đạo Khổng khuyên người ta giữ gìn mọi thứ, mọi phép tắc của cha ông để lại, dù phép tắc ấy lạc hậu đến đâu, phản nhân văn, phản tiến bộ đến đâu. Nó bắt ngừơi ta luôn tâm niệm rằng đã là người xưa, là cha ông thì không bao giờ sai. Vua bao giờ cũng sáng suốt. Quan là cha mẹ dân, quan sai khiến, dân phải có trách nhiệm thi hành, tuyệt đối không được bàn cãi. Đạo Khổng còn tuyên bố: Hình phạt không dùng cho quan lại, lễ nghi không dùng cho thứ dân.

Đạo Khổng luôn đề cao trật tự tôn ti. Nhưng “tôn” và “ti” đâu phải trên và dưới như nhiều người tưởng. Tôn là tôn quí, ti là ti tiện. Tôn quí thì ở bên trên, ti tiện thì ở bên dưới.

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, nền văn hoá Trung Hoa đã phát triển rực rỡ. Hệ thập phân đã được tìm ra từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III tcn. Cũng trong khoảng thế kỷ thứ IV tcn, người Trung Hoa đã lập được bảng danh mục đầu tiên về các thiên thể lớn, sớm hơn phát hiện của Hipparque thời Hy Lạp cổ tới hai thế kỷ. Vào khoảng thế kỷ XII tcn, người Trung Hoa đã biết trồng trọt, chăn nuôi. Nghề dệt lụa, làm đồ gốm cũng ra đời từ khoảng ấy. ” Tứ đại phát minh” là làm ra giấy, kỹ thuật in chữ rời, tìm ra la bàn, thuốc súng, không những là niềm tự hào của dân tộc Trung hoa mà còn là niềm tự hào của nền văn minh nhân loại. Những công trình sông đào đồng mức, những cung điện, đền đài và Vạn lý trường thành là những nét đặc sắc của văn hoá Trung Hoa cổ đại mà không phải dân tộc nào cũng có.

Lẽ ra, với nền tảng văn hoá ấy, người Trung Hoa phải dẫn đầu thế giới ngày nay. Nhưng thật đáng tiếc, từ trên 2000 năm trước, người Trung Hoa đã tiếp thu phải một học thuyết phản khoa học. Nền văn hoá ấy chỉ biết hướng về quá khứ, tự hào nhờ quá khứ và ngủ yên trên quá khứ. Nền văn hoá ấy không hướng tới tương lai, không dung nạp tương lai.

Đạo Khổng đã khống chế nền văn hoá Trung Hoa suốt khoảng 2500 năm. Cũng chừng ấy thời gian, đạo Khổng đã được các triều đình, các quan lại, các vua chúa ViệtNamtiếp thu, lấy đó làm nền tảng, là kim chỉ nam để trị quốc, trị dân. Học thuyết ngoại lai, nô dịch ấy luôn được khuyến khích phổ cập, nhồi nhét, luôn được giới nho sĩ và những người cầm quyền  quảng bá. Nó đã thấm sâu vào nếp ăn, nếp ở, nếp ứng xử của mọi người, từ vua chúa, quan lại đến dân đen khốn khó. Cũng như người dân Trung Hoa, cái văn hoá nô dịch ấy làm cho mọi người dân không dám ngửng đầu lên, không dám nhìn về phía trước, nhìn về tương lai. Đến nỗi trước đây không lâu, người ta còn nhắc đến thời vua Nghiêu, vua Thuấn với một sự luyến tiếc, cần phải noi theo! Nguy hại hơn, những kẻ cầm quyền gây một ảo giác rằng ngoài học thuyết của đạo Khổng ra, trên thế gian này không còn học thuyết nào khác, nó là duy nhất hiện hữu và duy nhất đúng. Xã hội khốn khó là do người ta chưa thực hiện đúng những điều nó răn dạy mà thôi!

Đất nước Trung Hoa không vươn lên được vì sự kìm hãm của đạo Khổng thì cũng không có gì ngạc nhiên khi đất nước ta suốt mấy nghìn năm vẫn quanh quẩn trong sự tù đọng, lạc hậu. Cái học thuyết chính thống ấy đã trở thành tập quán. Nếu ai dám nghĩ khác, nói khác, làm khác đi chút ít thì không những bị nhà cầm quyền lên án, kết tội mà bị ngay những người xung quanh xỉ vả, xa lánh. xã hội trở thành cái ao tù.

Khi một học thuyết đã trở thành tập quán, đã ăn sâu vào tâm lý, vào nếp sống thì nó có cách lưu truyền riêng của nó. Nó truyền qua sinh hoạt hàng ngày, qua những hành động, cử chỉ của người lớn, qua những gương anh hùng “Trung quân ái quốc” ( Trung với vua là yêu nước, yêu nước thì phải trung với vua). Không có trí tuệ nào vươn lên được để tranh hơn thua với nó.

Sẽ có người hỏi: Làm sao một học thuyết bảo thủ, trì trệ  lại có thể được tiếp thu và tồn tại lâu dài như vậy ? Người ta có cố tình vu cáo, bóp méo nó không?

Học thuyết nào ra đời cũng có lý do khách quan, nhằm giải quyết vấn đề nào đó của xã hội. Đạo Khổng ra đời  khi nhàChubước vào thời kỳ suy thoái, triều đình trung ương bị đe doạ mất hết quyền lực. Học thuyết của Khổng Tử ra đời nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho việc thống nhất đất nước, củng cố chính quyền trung ương. Nhờ thế xã hội đã được kết nối, chấm dứt sự phân ly kéo dài. Nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Nếu sau đó, với một xã hội có nền văn hoá mở, biết hướng về phía trước, hẳn đã có một học thuyết khác năng động hơn, sáng tạo hơn, đáp ứng những đòi hỏi của thời kỳ lịch sử mới.

Nhưng những kẻ cầm quyền đâu cần một xã hội khác, nếu xã hội ấy có nguy cơ đe doạ đến quyền lực của chúng ? Thế là đạo Khổng cứ được duy trì, cứ được thêm thắt, sao cho có lợi nhất cho việc duy trì quyền lực của kẻ cầm quyền, mặc cho xã hội tù đọng, lạc hậu.

Suốt mấy nghìn năm, khi chìm trong cảnh nô lệ, người dân Việt dồn mọi sức lực, trí tuệ vào việc liên kết nhau lại để khởi nghĩa, giành độc lập. Khi đã có độc lập lại luôn phải canh cánh tìm cách giữ gìn bờ cõi, không có thời gian nghĩ đến làm giầu. Có thể nói không quá rằng tâm thế của người Việt chúng ta là tâm thế chiến tranh, rất yếu kém về tư duy kinh tế.  Đến khi có điều kiện kiến thiết quốc gia, có điều kiện làm giầu thì chúng ta lúng tũng, bỡ ngỡ.

Có thấy hết những khó khăn, trở ngại, yếu kém của mình trên con đường hoà nhập quốc tế, chúng ta mới biết cần phải rũ bỏ điều gì, cần phải khắc phục điều gì, điều chỉnh điều gì. Cần phải phát huy thế mạnh nào.

Trong sân chơi toàn cầu, chúng ta không sợ những kẻ to xác, bởi những kẻ to xác thì ít còn những kẻ như ta, nhỏ bé hơn ta thì đông đảo hơn nhiều.

Một nhà kinh tế nói rằng thời những kẻ to xác bắt nạt những kẻ nhỏ bé đã qua rồi. Bây giờ là thời đại của những kẻ nhỏ bé nhưng  lanh lợi, cơ động, linh hoạt. Chúng ta có lanh lợi linh hoạt không là phụ thuộc vào chính sự cố gắng của chúng ta, bản lĩnh của chúng ta.

Theo học giả Thomas L.Friedman một đất nước đang phát triển muốn tham gia thành công trong xu thế toàn cầu hoá  phải thực hiện càng sớm càng tốt ba yếu tố cơ bản là:  “Cơ sở hạ tầng kết nối nhiều người với nền tảng thế giới phẳng: từ băng thông internet đến điện thoại di động, sân bay và đường xá hiện đại; nền giáo dục tiên tiến tạo ra ngày càng nhiều người có thể sáng tạo và làm việc trên hệ thống thế giới phẳng; và việc quản trị tốt, từ chính sách tài chính tới hệ thống pháp luật để quản lý hữu hiệu con người trong thế giới phẳng”  

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thu hút đầu tư nước ngoài chúng ta có đủ tỉnh táo, có đủ văn hoá để mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến không, có đủ trình độ để không bị những doanh nghiệp nước ngoài biến đất nước ta thành nơi hứng chịu những cỗ máy lạc hậu, già cỗi gây hại cho môi trường và nền kinh tế của chúng ta không ?

Dân tộc ta không những thông minh, nhanh trí mà còn cần cù, chịu thương chịu khó, có tinh thần yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng, gạt bỏ quyền lợi cục bộ của gia đình, dòng tộc, làng xã  để chung sức chung lòng, sáng tạo nhiều cách đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Bởi vì chúng ta thấm thía cái nhục mất nước.

Nếu toàn thể dân tộc ta không chịu thoả mãn với những gì đã đạt được, thấy được cái nhục của sự thua kém các dân tộc xung quanh mà phát huy tình yêu quê hương đất nước, phát huy sáng kiến như trong những cuộc chiến tranh vệ quốc thì nhất định đất nước ta sẽ mau chóng vươn lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong  thư gửi các cháu học sinh từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.

NGUỒN: Bài đã đăng trong tạp chí Khoa học& Kinh tế Hải Phòng số ra tháng 4-2011.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 93 other followers

%d bloggers like this: